Cộng đồng người Ê Đê tại Việt Nam sinh sống chủ yếu tại các tỉnh Đắk Lắk, Đắk Nông, Gia Lai, Phú Yên và Khánh Hòa, với nền kinh tế gắn liền với ruộng đồng, nương rẫy. Hầu hết người Ê Đê theo chế độ mẫu hệ, vì vậy phụ nữ luôn đóng vai trò chính trong gia đình và cộng đồng. Tại đây, con cái khi sinh ra đều do người mẹ quyết định về họ tên kể cả quyền thừa kế tài sản. Cũng yếu tố mẫu hệ này đã định hình nên những nét đặc sắc trong các phong tục liên quan đến việc hôn nhân của người Ê Đê, với những khác biệt đáng kể so với nhiều dân tộc khác cùng chung sống tại Việt Nam.

Chiếc vòng xem như vật đính hôn   

“Quyền lực” của người phụ nữ

Với nhiều người, chuyện cưới chồng của phụ nữ Ê Đê được xem sự lạ nhưng với đồng bào Ê Đê là chuyện “không có gì ầm ĩ”. Theo đó, thường vào cuối mùa rẫy, nhân dịp ngày rộng tháng dài, lúa thóc đầy nhà, lại ủ được một số rượu cần, nhà có sẵn gia súc trâu, bò, gà, heo… Ở trong nhà có cô con gái tới tuổi “cặp kê”, trường hợp chàng trai nào đó lọt vào “mắt xanh” cô gái ấy thì cô sẽ tìm cách thưa lại với cha mẹ nhờ người mai mối nhanh chóng đưa tới nhà trai làm lễ hỏi và cưới chồng.

Già làng Ama Loan (74 tuổi, buôn A Kok Thon, Buôn Ma Thuột, Đắk Lắk) cho biết: “Để lấy được người chồng ưng bụng, cô gái Ê Đê phải tuần tự trải qua 4 bước theo quy định, gồm: lễ hỏi chồng (Nao hul), lễ gửi dâu (K’năm), lễ rước rể (Tuhan) và lễ lại mặt (Siê Knăm)”.

Lễ cưới của người Ê Đê

Tục “cưới chồng”

Xem thêm:   Những dòng hoài niệm về Dalat xưa (kỳ 2)

Lễ hỏi chồng (Nao huh) là bước đầu tiên trong cuộc hôn nhân. Khi muốn lấy người con trai ưng ý làm chồng, cô gái Ê Đê phải nhờ cậy người mai mối (em trai ruột của mẹ hoặc người lớn tuổi nhất bên nhà gái, có uy tín, khỏe mạnh, am hiểu luật tục, nói năng lưu loát). Tiếp đó cha mẹ cô gái chuẩn bị 1 ché rượu và 1 chiếc vòng để ông mai mang qua nhà trai nói chuyện, làm lễ hỏi chồng. Chất liệu chiếc vòng tùy hoàn cảnh gia đình cô gái, có thể bằng đồng, bạc hoặc vàng. Nếu chàng trai đồng ý nhận lời ngỏ bên nhà gái sẽ nhận chiếc vòng làm vật đính hôn. Khi này, cô gái và chàng trai cùng chạm tay vào chiếc vòng, xem như lời giao ước hôn thú, dưới sự chứng giám của thần linh, sự công nhận của hai bên gia đình cùng bà con xóm giềng. Hai bên gia đình tiếp tục thỏa thuận việc chọn ngày làm lễ cưới chính thức.

Tiếp theo, trước ngày lễ cưới được tổ chức, hai họ bắt đầu thực hiện thủ tục “gửi dâu” (K’năm). Đại diện phía nhà gái sẽ đưa cô gái đến tạm sống tại nhà người chồng chưa cưới (khoảng 2-3 năm) cùng lễ vật gồm 1 con gà, 1 mâm xôi và 1 ché rượu. Lúc này bên nhà trai đưa ra vật thách cưới, thường là 1 con trâu/bò, 1 thanh la, 1 con gà, 10 ghè rượu, 2 chiếc vòng tay… nhằm mục đích bày tỏ sự biết ơn đối với công sức nuôi dưỡng, chăm sóc của cha mẹ chàng trai. Đặc biệt nếu chàng trai có học thức, địa vị thì mức thách cưới càng cao. Tất nhiên, nhà trai có quyền thách cưới thì nhà gái cũng có quyền xin giảm bớt lễ vật tùy điều kiện thực tế của gia đình họ. Cũng có đám cưới phải trì hoãn nhiều năm vì nhà gái khó khăn không lo đủ đồ thách cưới hoặc đôi khi nhà trai thông cảm cho “cưới tạm”, nhà gái sẽ trả nợ dần.

Lễ tiễn con trai về nhà vợ

Sau thời gian gửi dâu, trường hợp chàng trai đổi ý, không muốn lấy người cầu hôn mình thì phía nhà trai sẽ mời nhà gái đến nói lời từ chối. Tuy nhiên hiếm có trường hợp chàng trai đổi ý sau khi đã nhận lời cầu hôn của cô gái. Song nếu việc này xảy ra, nhà trai buộc phải đền bù gấp đôi số lễ vật đã yêu cầu nhà gái chuẩn bị, đồng thời phải làm thịt 1 con bò hoặc 1 con heo lớn để tạ lỗi nhà gái. Còn nếu chấp thuận cô gái sẽ đồng ý cho nhà gái tiến hành lễ rước rể (Tuhan).

Xem thêm:   Cô kỹ sư Trung Quốc

Trong ngày Tuhan, phía nhà gái phải chuẩn bị đầy đủ lễ vật trước đó nhà trai đã yêu cầu nơi lễ K’năm và họ hàng nhà gái sẽ đến nhà trai để đón đôi vợ chồng trẻ đưa về nhà vợ. Cũng trong ngày này, nhà trai làm lễ tiễn con gồm 3 ché rượu, 1 con heo. Nhà gái cũng làm lễ cúng cho cha mẹ chàng rể và các thành viên khác trong gia đình gồm cúng cho người cha 1 con heo; cúng cho mẹ 1 con trâu/bò, 8 chiếc vòng tay tượng trưng sự ràng buộc gửi gắm, một chiếc chén đồng tượng trưng cho nồi cơm và bầu sữa mẹ, một chiếc chăn đắp thổ cẩm tượng trưng sự ấm cúng gia đình. Sau khi nghi thức thực hiện xong, dàn chiêng sẽ trỗi lên, cô dâu, chú rể cầm cần rượu cho nhau, ăn chung một miếng cơm, một miếng gan heo với ý nghĩa cùng chia ngọt sẻ bùi. Trong quá trình đưa rể về nhà gái, đoàn rước rể sẽ bị những tốp thanh niên là bạn bè, anh chị em bên nhà gái tìm đủ trò đùa ngăn chặn lại. Để vượt qua, đoàn rước rể phải có cách đối phó hợp lý hoặc tặng quà cho họ để thể hiện sự quyết tâm của chú rể trên chặng đường hôn nhân. Người Ê Đê quan niệm rằng trên đường đi gặp nhiều thử thách, cản trở thì cuộc hôn nhân càng dễ vượt qua mọi khó khăn.

Người nhà gái bày trò ngăn cản đám rước rể

Sau khoảng 2 – 5 ngày; đôi vợ chồng mới sẽ cùng nhau về nhà cha mẹ chồng làm lễ lại mặt (Siê Knăm). Lúc này nhà trai sẽ đãi tiệc rượu và bàn giao một số đồ dùng gia đình để chú rể mang về nhà vợ. Sau lễ lại mặt thì đôi vòng đồng được xem là kỷ vật được giữ đến trọn đời và sẽ được trao truyền lại cho con cháu để làm của hồi môn hoặc chôn theo khi chết.

Xem thêm:   Cusco cố đô Ica (kỳ 3)

… Ngày nay theo trào lưu đời sống mới, người dân tộc Ê Đê tổ chức lễ cưới hiện đại hơn, tuy vậy nhiều nghi thức trong lễ cưới chồng nêu trên vẫn duy trì phổ biến hầu khắp các buôn làng người Ê Đê ở Đắk Lắk cũng như các tỉnh Tây Nguyên của Việt Nam.

Bài và hình NS