Từ Lima Dế Mèn đến Cusco (hay Cuzco) bằng chuyến bay nội địa, 1 tiếng 40 phút. Có lẽ đây là đường bay phổ thông nên cứ mỗi tiếng lại có ít nhất một chuyến bay đi Cusco; máy bay của ba bốn hãng hàng không liên tục lên xuống.

Sông Urubamba      

Peru – bài 3

Ðã được dặn dò trước rằng Cusco ở độ cao 11 ngàn bộ Anh (cách mặt biển) nên khách lạ thể nào cũng váng đầu hoa mắt và khó thở, phe ta vẫn giật mình vì trong vòng mươi phút chờ đợi hành lý đã thấy nhức đầu mệt mỏi. Bước vào phi trường Dế Mèn đã thấy người ta bày la liệt những rổ lá khô, lá coca. Người dẫn đường biểu rằng nhai lá coca rồi nuốt nước miếng sẽ thấy bớt nhức đầu do sự thay đổi áp suất trong không khí. Nhai lá coca hay uống trà pha bằng lá coca sẽ khiến nước tiểu [nếu phải thử nghiệm xem có dùng cocaine không] ra dương tính.

Phe ta tò mò nên cũng nhai thử một lá, mèng ơi, nó lờ lợ đắng đắng khó nuốt vô cùng nên đành đầu hàng. Hàng quán nào cũng để sẵn một rổ lá coca khô. Dế Mèn nghe nói người ta nhón một lá để lấy hên và nhờ Shaman “đọc” dùm quá khứ vị lai hiển hiện trên gân lá (?) từa tựa như ta xem bói!

Đôi trâu trên mái nhà

​Hãng du lịch kinh nghiệm đầy mình nên đón khách từ phi trường xong là vội vàng… hạ sơn, đưa du khách xuống thung lũng để họ hoàn hồn và làm quen với vùng đất mới. El Valle Sagrado (Sacred Valley) hay thung lũng sông Urubamba là một trong nhóm di tích Inca, cách Cusco khoảng 15 cây số đường chim bay, thung lũng này có độ cao khoảng 9,000 bộ Anh. Dế Mèn nghe nói độ cao dưới 10 ngàn bộ thì chứng ‘high altitude’ không đến nỗi khó kham và đúng như thế. Chỉ sau khoảng một tiếng ngồi trên xe bus, uống đủ nước thì đã cảm thấy dễ chịu và Dế Mèn đã có thể leo trèo các bậc đá lên đỉnh đồi để ngắm nhìn di tích.

​Con đường đồi ngoằn ngoèo với những khúc quanh khá gắt, thiếu kinh nghiệm là xe lăn xuống hố liền vì hai bên đường chẳng có rào chắn, safety rails, bao quanh là vực thẳm, và những thửa ruộng bực thang uốn mình theo triền núi.

Ngai Vua tại di tích Pisac

Thôn làng nằm hai bên dòng sông Urubamba rải rác những ngôi nhà mái ngói âm dương chưng thánh giá (theo đạo Thiên Chúa của người Tây Ban Nha) và hai con trâu đực (biểu tượng của sự hùng mạnh, sung mãn) cầu mong bình an hạnh phúc.

Xem thêm:   Bài học từ Hormuz

Tại Pisac, ngai vua ngày cũ là tảng đá mài nhẵn, nơi ánh mặt trời xuyên qua khe núi đá. Thần dân nhìn lên thấy chói lòa trong hang âm u.

Khung cảnh từ đỉnh đồi nhìn khá đẹp, Dế Mèn nghe nói đây là đất thánh (?) nơi chôn cất của người Inca. Ngó từ xa, triền núi lỗ chỗ những lỗ hổng; người chỉ đường biểu rằng đó là nơi người Inca chôn cất thân nhân (làm lớn như vua quan lúc sinh thời), thân mình được cuộn chặt trong thế co tròn như bào thai và đem chôn trong hang núi. Qua mấy trăm năm, không biết tự bao giờ những mộ chí ấy bị kẻ cướp khai quật nên ngày nay chỉ còn là những lỗ trống, và du khách không được héo lánh tới.

Hàng quán bên đường

Về đến quán trọ thì trời đã tối, khách sạn San Augustin nằm trong thôn làng Urubamba. Đây là chỗ dừng chân của du khách trước khi lên xe lửa đi Machupicchu. Plaza de Armes là trung tâm của thôn làng, hàng quán chung quanh và những chiếc xe lam ba bánh đậu dài dài đưa đón du khách. Miền núi mùa đông nên buổi tối khá lạnh, nhiệt độ xuống đến 30 độ F mà dân địa phương cứ phây phây đi chân trần ngồi trên nền đất; hẳn họ đã quen với khí hậu ấy?

Người địa phương vẫn tiếp tục sinh sống như cha ông họ trước đó, cày cuốc chăn nuôi gia súc, mọi việc đều dùng sức người; nếp sống xem ra vất vả dưới cái nhìn Âu Mỹ, Dế Mèn không biết họ có cảm thấy nhọc nhằn như ta nghĩ không nhỉ? Họ chạy theo xe bus để đón du khách và bán hàng hóa; hàng hóa là những vật dụng làm bằng tay như búp bê, khăn quàng cổ …

Quán Chicha-Bia bắp ngô

Buổi sáng hôm sau, nhóm du khách thả phao nổi trôi theo dòng sông Urubamba, sông nước lặng lờ nên chẳng cần chèo chống chi cả. Không khí ban mai mát rượi trong veo như làn nước dưới sông. Hai bên bờ là vách núi, rải rác nhà cửa của người địa phương, Dế Mèn thấy chó mà không thấy mèo, thấy vịt mà không thấy gà. Hỏi thăm thì người dẫn đường biểu rằng thịt vịt không được ưa chuộng vì có mùi bùn tanh tanh, chim trời cá nước, mấy con vịt hoang chẳng ai nuôi cả.

Xem thêm:   Lãnh tụ độc tôn

Trên đường đèo ghé quán ăn trưa có món đặc biệt, cuy. Guinea pig, thực ra là giống chuột, không phải heo, được nuôi trong nhà bếp để lấy thịt. Con “heo” nhỏ xíu cỡ 2-3 cân Anh được ướp gia vị đem nướng trong dịp lễ lạt và được xem là món ăn ngon, đặc biệt. Dế Mèn cũng thử một đũa thịt… chuột, mùi vị chẳng có chi khác thường, con vật hầu như không có mỡ, chỉ có chút thịt và da. Ở đây người ta làm món tortilla cũng bằng bột bắp nhưng dày hơn và chiên vàng thay vì mỏng dính như những nơi khác. Có lẽ món bánh làm bột bắp là có tên “tortilla” chăng? Chuột nướng và bánh bột bắp:

Trên đường lang thang, có người trong nhóm du khách hỏi thăm về cái gậy bọc bao nhựa đỏ dựng trước nhà để làm chi. Hóa ra là dấu hiệu của quán hàng bán bia địa phương, chicha. Thế là đoàn du khách ghé hàng quán để thử bia địa phương.

Paolo Seminaro Gallery

Bắp ngô một trăm lẻ tám loại là thực phẩm chính của thổ dân, bắp trắng, vàng, đen, đỏ… đủ màu sắc; hạt bắp cũng đủ mọi kích thước nên không lạ là chicha làm bằng hạt bắp ngô lên men. Ngày xa xưa chưa có men, người ta giao việc nhai hạt bắp cho những bé gái đồng trinh. Nhai cho nát rồi nhổ ra chờ hạt bắp ngâm nước miếng lên men để chế bia. Từa tựa như dân Nhật Bản cho con gái đồng trinh nhai cơm nếp để cất rượu sake. Ngày nay, người ta ủ nước cho hạt bắp lên men rồi đem ngâm, sau khoảng 7 ngày thì dậy men bia. Có hai loại chính: bia vàng là nước bắp lên men, chua lè, và bia dâu, pha thêm strawberry và đường nên ngọt lờ lợ… Sau khi hứng nước bắp lên men, bã dùng để nuôi guinea pig chạy rông trong bếp. Người địa phương cất một chái riêng cho nhà bếp đun củi, nền đất với bờ cửa cao khoảng 1 tấc để chuột (heo) khỏi xổng ra ngoài! Bia chứa trong mấy cái vại phủ khăn thưa, ngoài hai ly bia to kềnh càng, trên bàn là mấy món rau cỏ địa phương.

Xem thêm:   Chỉ số thông minh IQ biểu hiện những gì?

Buổi chiều có chút giờ riêng tư nên Dế Mèn ghé phòng triển lãm của một nghệ sĩ địa phương nổi tiếng thế giới, ông Paolo Seminario.

Trẻ em trong làng Ollantaytambo

Ông Seminario có tác phẩm trưng bày tại the Cusco Museum of Pre-Columbian Art (MAP), Peru và the Chicago Field Museum, Hoa Kỳ. Ông nghệ sĩ gốc gác là kiến trúc sư nhưng bỏ nghề để theo đuổi việc nặn tượng dùng đất sét. Sau mấy chục năm tìm tòi và “thử nghiệm” với các hình tượng Peru cổ truyền, ông ấy và bà vợ Marilú Behar, tạo ra đường nét riêng, the Seminario style có cả “tân” lẫn “cổ”. Ông nặn tượng và vật dụng, bà pha chế màu và tô vẽ, mỗi món có một hình thể màu sắc riêng biệt. Lò gốm mở cửa đón du khách. Dế Mèn mua mấy món đồ gốm, một cái dĩa và một cái chén nhỏ, màu sắc khá lạ mắt.

Thôn làng Ollantaytambo có công trường chính và mọi con đường ngoằn ngoèo giữa các vách tường đá cao nghệu đều dẫn ra đây. Thôn làng cũng giữ được một số di tích của người Inca hoặc của bộ tộc trước đó (?) vì các công trình xây cất kia vĩ đại quá, khó có thể hoàn tất trong vòng 100 năm ngắn ngủi; và triều đại Inca chỉ vỏn vẹn trên dưới 100 năm qua khoảng 14 triều vua chúa. Những tảng đá được đẽo gọt để ráp lại khít khao với nhau. Kỹ thuật ấy tân tiến quá nên trải qua mấy trận động đất long trời, thành quách vẫn đứng y nguyên.

(còn tiếp)