Tháng Bảy ta rồi đó. Tháng bảy ngày rằm… gợi cho chúng ta nhiều điều suy gẫm.

Tháng Bảy là Mùa Vu Lan. Mà Vu Lan -theo tinh thần nhà Phật- là Mùa Báo Hiếu mẹ cha, đền đáp công ơn những vị đã sinh thành và dưỡng dục chúng ta. Công cha nghĩa mẹ, làm sao quên được. Lễ Vu Lan – như trong đời sống chúng ta bây giờ – xuất phát từ chuyện Ngài Mục Kiền Liên, thương nhớ mẹ là Bà Mục Liên Thanh Đề bị đọa vào ngạ quỷ.

Bỗng nhớ ca khúc Mục Kiền Liên của Ðỗ Kim Bảng thời nhỏ ở Vương phủ: Ðìu hiu gió / Bóng chiều rơi theo lá thu/ Có đàn chim bay vẩn vơ / Chuông chùa xa đưa huyền mơ / Mục Kiền Liên đứng nhìn cánh đêm dần lan / Nhớ mẹ xót xa tâm hồn / Bóng mẹ biết bây giờ đâu…

Kinh sách Nhà Phật chép: Ngài Mục Kiền Liên sau khi đắc đạo, chứng quả A La Hán, đã vận dụng thiên nhãn để tìm xem Mẹ tái sinh ở đâu. Ngài thấy Mẹ bị đọa vào ngạ quỷ, gầy ốm, đói khát rất khốn khổ. Lòng đầy thương xót, Ngài lấy cơm trong bình bát dâng Mẹ nhưng cơm liền biến thành lửa. Mục Kiền Liên trở về bạch Phật và xin Phật chỉ dạy cách cứu Mẹ. Phật khuyên Ngài Mục Kiền Liên sắm sửa lễ vật cúng dường, dâng các Chư Tăng, Hiền Thánh ngày rằm tháng Bảy và xin các Ngài cầu nguyện cho, thì Cha Mẹ bảy đời quá vãng cũng như hiện tiền đều được nhiều phước đức. Ngài Mục Kiền Liên vâng lời Phật dạy, đến ngày rằm tháng Bảy sắm sửa lễ vật dâng cúng Chư Phật, chư Hiền thánh và xin các Ngài cầu nguyện cho Mẹ. Ngay sau đó Mẹ Ngài Mục Kiền Liên hối cải, nên được giải thoát kiếp ngạ quỷ và sinh lên cõi Trời. Từ đó Phật tử theo gương Ngài, hằng năm tổ chức đại lễ Vu Lan Báo Hiếu Mẹ Cha vào rằm tháng Bảy .

Trong ngày nhớ ơn Mẹ, ở Nhật có tục lệ cài hoa hồng lên áo. Người nào còn Mẹ thì cài hoa hồng đỏ, người nào không còn Mẹ thì cài hoa hồng trắng. Hòa thượng Thích Nhất Hạnh du học ở Nhật thấy tập quán này có ý nghĩa nên du nhập vào VN. Phong trào “Bông hồng cài áo” ngày Vu Lan được Phật tử hưởng ứng và phổ biến rộng rãi từ đó.Và cũng từ đó,  cái tình đối với Mẹ dường như sâu hơn, đậm hơn -và lòng tưởng nhớ Mẹ như càng thôi thúc hơn. Lẽ dễ hiểu là lòng hy sinh ở Mẹ vô cùng rộng lớn.

Xem thêm:   Thu viết cho mình

Vu Lan, như chúng ta thấy, đã đi vào thi ca và âm nhạc.

Xin nghe Nguyễn Ðình Toàn. Nguyễn Ðình Toàn, trong CD Tôi Muốn Nói Với  Em, có một ca khúc rất hay, La Sương Sương hát với giọng nam phụ họa, đó là bài Mẹ.

Chân tay con mẹ cho với sữa mẹ

Trong tim con mẹ san máu xuân thì…

… Trong đêm khuya mẹ như ánh trăng rằm

Soi cho con bằng đôi mắt dịu dàng

Vu Lan, trong đời sống chúng ta, đã trở thành ngày tưởng nghĩ tới Mẹ. Ngày Lễ Vu Lan như vậy là ngày để mọi người làm cái gì đó đặc biệt cho Mẹ, nếu Mẹ còn tại thế. Còn nếu Mẹ đã khuất núi, thì cài bông hồng trng lên ngực áo và cầu kinh, khói hương tưởng niệm.

Cũng trong tâm nguyện vừa nói, nhưng ở một không gian khác, chúng ta hãy nghe Ðỗ Hồng Ngọc, Võ Tá Hân và Thu Vàng. Bông Hồng Cho Mẹ của Ðỗ Hồng Ngọc là một bài thơ hay.  Có người cho là hay đến lạnh người, lặng người. Rất nhiều tác giả đã ca ngợi bài thơ và nó được Võ Tá Hân phổ nhạc, nghe qua với giọng hát Thu Vàng thật tuyệt vời.

Con cài bông hoa trắng

Dành cho mẹ đóa hồng

Mẹ nhớ gài lên ngực

Ngoại chờ bên kia sông

(Bông Hồng Cho Mẹ, Đỗ Hồng Ngọc)

Nguyễn Thị Khánh Minh đã đọc bài thơ với những cảm xúc tuyệt vời: “Ngoại Chờ Bên Kia Sông, tôi viết hoa vì mỗi chữ của câu thơ này là khởi đề dẫn đến chiêm nghiệm ảo hóa về sinh tử. Và toàn bài thơ là tấm tình trong vắt ban sơ của người con, rất nhỏ, mà cũng đã rất già. Bởi rất nhỏ thì mới yêu thương Mẹ được hồn nhiên như thế. Và phải chăng, rất già mới có thể biến yêu thương ngây thơ thành một tình yêu vượt qua được đau đớn của chia lìa sinh tử, như thế.

Cảm ơn nhà thơ Ðỗ Hồng Ngọc, cho tôi biết thêm một nhịp đập thương yêu nữa của Hiếu Tử, cho tôi từ bây giờ đã có thể chấp nhận một cách nhẹ nhàng khi nghĩ đến một lúc nào đó phải xa Mẹ. Không phải là một cái xa hẳn rồi, mất hẳn rồi như tôi vẫn thường nghĩ nữa. Trong hạt nước mắt rơi lại thấp thoáng nụ cười, nhìn Mẹ của ta lại cài hoa hồng đỏ về bên Ngoại. Ôi! Cái không nói của Ngoại Chờ Bên Kia Sông đã lấp đầy cảm xúc và ý nghĩ của tôi đến thế!

Xem thêm:   Nghĩ trong đêm mưa gió

Và lúc này đây, còn được thấy Mẹ ra vào thì hãy thỏ thẻ bên vai Mẹ rằng,

… mỗi ngày đi qua đang cài cho con một bông hồng… (thơ Đỗ Trung Quân)

Trong hoan hỷ địa mẫu tử, tôi đọc thầm cho riêng mình, gửi đến các con tôi,

… tận cùng hạt lệ mẹ

là nước mắt con rơi

tận cùng tiếng cười mẹ

là nụ cười con vừa mở

và con ơi

tận cùng hư vô mẹ

sẽ một ánh nhìn theo con. trở lại

(thơ NTKM)

Qua bài thơ, giáo sư Nguyễn Thị Tịnh Thy đi vào triết lý của nhà Phật: “Viết về cái chết, về nỗi đau tử biệt nhẹ nhàng như thế, nhà thơ đã thấm nhuần triết lý của nhà Phật. “Vô thường”, “sắc không”, “tứ khổ”, “diệt khổ”, “từ ái”… được chất chứa trong từng câu chữ giản dị tưởng chừng như không còn là thơ, không phải là thơ. Tất cả hai mươi chữ trong bài thơ tứ tuyệt này đều là từ thuần Việt, cả danh từ, động từ, đại từ…; cả hình ảnh, biểu tượng… cũng đều rất đời thường và dân dã đến mức người đọc, người nghe ở trình độ nào cũng có thể hiểu, có thể cảm, có thể xúc động. Mặc dù bài thơ đậm chất triết lý, nhưng chất triết lý ấy đến một cách đơn giản, không trau chuốt gọt giũa, không cao đàm khoát luận. Mọi cảm xúc, tình cảm trong bài thơ vừa như có, vừa như không; vừa rất nặng, vừa rất nhẹ; vừa hiện thực, vừa kỳ ảo. Tất cả đều tùy thuộc vào cách mà mỗi người cảm nhận về cái chết, về tình mẫu tử, về lẽ tử sinh. Sâu sắc và đa nghĩa như thế, Bông hồng cho Mẹ là cả một chân trời nghệ thuật mà ở đó, mọi đường nét nghệ thuật dường như tan biến trong tình cảm sâu nặng của người con đối với mẹ, để rồi lan tỏa đến người đọc. Khiến cho người đang nằm có thể bước đi, khiến cõi chết trở thành cõi sống, khiến âm dương cách biệt trở nên gần lại, đậm chất nghệ thuật nhưng không thấy dấu hiệu của nghệ thuật, như vậy là bài thơ đã đạt đến cảnh giới cao siêu của nghệ thuật: “áo của thợ trời không nhìn thấy đường may” (thiên y vô phùng). Chỉ trong hai mươi chữ, từ một tấm lòng, nhà thơ đã nói hộ muôn tấm lòng. Ước mong của tác giả là ước mong của mọi người, tiếng thơ của anh nhưng là tiếng lòng của tôi, của tất cả chúng ta.”

Xem thêm:   Mưa… trên gạch đá Đồng Tâm

Nhớ Vu Lan năm nào, Hòa Thượng Thích Quảng độ nhắc nhở chúng ta, rằng theo Kinh Phật dạy, chúng sanh trong vô lượng kiếp, đều là Cha Mẹ thân thuộc lẫn nhau. Cho nên, cúng dường Cha Mẹ, đồng thời cũng cúng dường tất cả chúng sanh. Và mùa Vu Lan báo hiếu, trong truyền thống văn hóa Việt Nam, đã biến thành Mùa Xá Tội Vong Nhân. Do đó, rằm tháng Bảy còn là ngày tưởng nghĩ đến những người đã chết thất tán, không nơi nương tựa. Tháng Bảy Ngày Rằm xá tội vong nhân, cầu cho linh hồn người chết được siêu thoát. Chính trong tinh thần đó, và với lòng thương tưởng bao la của một nghệ sĩ lớn, Nguyễn Du đã viết Văn Tế Thập Loại Chúng Sinh, tức Chiêu Hồn Ca. Và kêu gọi những hồn tản lạc, lôi thôi bồng trẻ dắt già, ai khôn thiêng đó lại mà nghe kinh… Với chúng ta, từng dấn thân vào cuộc chiến dài hai chục năm trên đất nước mình,  đã chứng kiến bao nhiêu bè bạn đồng bào ruột thịt gục ngã, rồi kể từ Tháng Tư Mùa Xuân Ðen 1975, số người tìm cách vượt thoát, bỏ thân trên rừng trên biển có đến hàng trăm ngàn người. Làm sao chúng ta ở phương trời này quên được những bạn bè anh em thân nhân đó của chúng ta. Vậy trong Mùa Vu Lan, xin hãy cùng nhau thắp lên nén hương tưởng niệm và cầu nguyện cho những hồn oan ruột thịt được siêu thoát. Và trên tất cả, hãy cám ơn mảnh đất này đã chấp nhận chúng ta, cho chúng ta cơ hội sống và làm lại cuộc đời, nghĩa là phục sinh từ những đổ vỡ ngày qua:

cùng với mọi người. tôi nối vòng tay

và cảm ơn thế giới đã cho tôi chỗ ở

khi nước mất nhà tan. bạn bè xiêu tán. thập loại chúng sanh mờ đồng rừng…

Vu Lan, từ đó, với chúng ta, mang một ý nghĩa vô cùng thâm sâu vậy.

TN