Tiết tháng Bảy mưa dầm sùi sụt

Toát hơi may lạnh buốt xương khô

Nhà văn Phạm Lưu Vũ viết trên Talawas ngày nào khi đọc lại Chiêu Hồn Ca tức Văn Tế Thập Loại Chúng Sinh của Nguyễn Du: Chép xong hai câu rùng mình rợn gai ốc mở đầu bài Văn chiêu hồn ấy, bỗng tôi giật bắn người, buông bút sững sờ… Thì ra thiên tài Nguyễn Du sau khi viết xong hai câu gọi là “thi trung hữu quỷ” (trong thơ có quỷ) ấy, tức là Người đã hoàn thành toàn bộ một trăm tám mươi tư câu Văn chiêu hồn kiệt xuất của mình rồi, chỉ còn mỗi việc viết ra cho đến khi kết thúc nữa mà thôi. Và những lời ai điếu, xót thương dành cho thập loại chúng sinh của một nhân cách lồng lộng quân tử cứ trùng điệp hiện lên giữa tiết tháng Bảy của âm dương sùi sụt. Những câu thơ vừa chỉ mặt đặt tên, vừa gọi ra lớp lớp thập loại kiếp người đã từng hiện hữu, đã từng trải qua hỉ, nộ, ái, ố… để rồi biến thành những vong hồn vất vưởng, rơi rụng lả tả khắp mọi chốn, mọi nơi, lớp nọ chồng lên lớp kia, đời đời, kiếp kiếp… Chỉ có bậc thiên tài, với một tấm lòng trong sáng, quảng đại từ bi và yêu thương hết mực, không gợn chút điên đảo, tầm thường nào thì mới trải hồn mình ra như vậy được.

Ðường bạch dương bóng chiều man mác

Dặm đường lê lác đác sương sa

Lòng nào lòng chẳng thiết tha

Cõi dương còn thế nữa là cõi âm

Với Chiêu Hồn Ca Thập Loại Chúng Sinh (CHCTLCS), một lần nọ Nguyễn cũng đã viết: Ðể mở đầu cho bản trường ca bi thảm và nhân ái này, Nguyễn Du hạ bút: Tiết tháng Bảy mưa dầm sùi sụt / Toát hơi may lạnh buốt xương khô / Não lòng thay, buổi chiều thu / Ngàn lau nhuốm bạc, lá ngô rụng vàng… Ðường bạch dương bóng chiều man mác / Dặm đường lê lác đác mưa sa / Lòng nào lòng chẳng thiết tha / Cõi dương còn thế nữa là cõi âm… Và lập tức, cánh cửa thiên thu mở ra – cõi trường dạ tối tăm trời đất… – những hồn oan phiêu bạt trở về tìm ánh lửa nhân gian. Chưa bao giờ chúng ta thấy văn chương của Nguyễn Du – như ở đây, dù đối tượng là những linh hồn của cõi âm – lại gần với đời sống đến thế. Tố Như tiên sinh vẽ ra trước mắt chúng ta khuôn mặt u buồn của thập loại chúng sinh – nói là chúng sinh nhưng ở đây chỉ thấy những mặt người, và gọi là thập loại nhưng có đến mười mấy hạng người trong xã hội được gọi hồn về. Với chúng ta, cộng đồng người Việt đã trải qua những biến động kinh hoàng của lịch sử và chiến tranh tàn khốc, để rồi phải bỏ nước ra đi tìm đường sống, đọc lại CHCTLCS của Nguyễn Du, chúng ta đặc biệt xót thương những cô hồn xiêu tán. Trước hết là những người lập chí cao – chí những lăm cất gánh non sông… – nhưng gặp “thế khuất vận cùng, mưa sa ngói lở” để rồi “máu tươi lai láng xương khô rụng rời…”.  Với chúng ta ngày hôm nay, đó là những vị tướng như Nguyễn Khoa Nam, Lê Văn Hưng… đã vị quốc vong thân. Tiếp đến là những cấp chỉ huy trong quân ngũ – Khi thất thế tên rơi đạn lạc / Bãi sa trường thịt nát máu rơi… Và rồi thời gian lạnh lùng trôi qua – Mênh mông góc bể chân trời / Nắm xương vô chủ biết rơi chốn nào? Hơn thế nữa, xót thương biết mấy, vong hồn của những chiến sĩ vô danh trong cuộc chiến dài gần hai chục năm ở quê nhà. Những người từng “Nước khe cơm vắt gian nan / Dãi dầu nghìn dặm lầm than một đời / Buổi chiến trận mạng người như rác / Phận đã đành đạn lạc tên rơi / Lập lòe ngọn lửa ma trơi / Tiếng oan văng vẳng tối trời càng thương!..”

Mặt khác, CHCTLCS của Nguyễn Du còn nhắc tới số phận oan khốc của những người tù: “Cũng có kẻ mắc đường tù rạc / Gửi mình vào chiếu rách một manh …” Ðọc đến đây, chúng ta không thể nào không thương tưởng tới hàng trăm ngàn anh em của chúng ta sau 1975 đã phải chịu cảnh ngục tù Cộng Sản và nhiều người đã gởi nắm xương tàn nơi ven rừng, dốc núi. Cũng vậy, khi Nguyễn Du tả những hồn oan chết sông chết biển – Cũng có kẻ vào sông ra bể / Cánh buồm mây chạy xế gió đông / Gặp cơn giông tố giữa dòng / Ðem thân chôn rấp vào lòng kình nghê – chúng ta nghĩ tới hàng trăm ngàn người chạy trốn CS, chấp nhận cái chết giữa muôn trùng sóng dữ… Trong mùa trai đàn, cúng tế này, xin dâng tuần nhang, bát nước cho những hồn u khốc ấy.

Xem thêm:   Tháng chín. Có một vầng trăng đi trong mưa

Quả thật CHCTLCS đã gợi ở chúng ta biết bao tưởng nhớ và xót thương. Và thời tiết tháng Bảy mưa ngâu cũng là thời điểm để trở về với quá khứ bi thương của dân tộc, nghĩ tới những anh em đồng đội đã nằm xuống trên khắp nẻo đường đất nước và trong các trại tù CS, nghĩ tới những thuyền nhân đã đắm chìm ở Biển Ðông… Làm sao quên được. Vâng, đúng vậy. Ngày hôm nay, chúng ta được sống ổn định sung túc trên xứ sở tự do này, chúng ta không thể nào tự cho phép mình quên anh em đồng đội và đồng bào ruột thịt. Chính quá khứ đã làm nên hiện tại. Quên quá khứ là quên hồn, quên xác. Chúng ta lẽ nào quên…

Vâng. Chúng ta lẽ nào quên.

Hướng về tháng Bảy ngày rằm, nhà văn Phan Thị Như Ngọc ở quê nhà cách đây mười mấy năm khi ngồi ở quán cà phê bên đường cùng nhà báo Anh Tuấn từ Pháp về đã viết một bài đoản văn gởi cho Nguyễn tôi. Ở những dòng này, ta thấy hiện lên không khí Chiêu Hồn Ca của Nguyễn Du trong đó có mưa dầm, ngọn đường lê và có lẽ cả “một đóa trăng tàn lẩn lút bay”, như trong thơ Thanh Tâm Tuyền. Ôi, lòng ta đã nới rộng tới vô biên và đụng tới đáy hồn nhân loại rồi chăng? Ôi, Như Ngọc.

“Tôi xin lỗi chàng (nhà báo Tây Âu), cầm tách trà đứng dậy, nhường chỗ cho thằng nhỏ mặc chiếc áo thun xanh chen vào bứt cỏ, đút vô hộp dế. Vạt cỏ ven đường hẻm chỗ thằng nhỏ hí húi, nở đầy hoa xa trục thảo khiêm tốn nhưng óng ánh vàng như mặt trời mới mọc. Tôi nhìn nó cho dế ăn hàng ngày quen mặt. Hôm nay thằng nhỏ hái nhiều cỏ, Nó bảo con mèo ở nhà đau bụng, mẹ nói hái cỏ về cho mèo ăn với…

Xem thêm:   Tháng Chín mưa trên ngọn hải đào

“Thằng nhỏ đi với bố. Bố nó không giúp con hái cỏ, không bắt chuyện với ai, ngồi với ly đen ngút khói. Gọi thêm cái đen nữa. Không uống. Nhưng rưới chậm rãi xuống cỏ. Mặt buồn hơn ngày mùa đông ở rừng. Chủ quán và tôi từng thấy nghi thức này. Mấy năm nay một kiểu như vậy, vào một ngày nhất định. Tay nhà báo về từ Tây Âu hất mắt ra ý hỏi.Tôi vắn tắt: Cho các bạn ông ấy. Chết rồi sao? Không, nhưng ở bên kia. Thì cũng coi như chết chứ gì… Vạt cỏ lúc nãy thằng con hái những đọt non nuôi dế, chữa bệnh mèo, bây giờ nhớp nháp, lấp xấp cà phê đen. Cỏ chắc vẫn sống. Nhưng lòng người đau gì dai dẳng lạ. Mỗi năm một lần, tháng Bảy âm lịch, như kiểu người ta xá tội vong nhân.

….

“Tháng Bảy này ai xá tội cho ai, xá bao nhiêu cho đủ, đọc Văn tế thập loại chúng sinh nữa ư, đọc nơi đâu, cho ai nghe giữa ầm ì đạn pháo và tiếng gào khóc, rú hét điên dại???

“Tôi không muốn tìm câu trả lời trong những cơ sở tôn giáo. Một mình tìm ra ven đồi cỏ, rưới cà phê, nằm xuống, sấp mặt rưng rưng, lời ủ hương hoa hồng trắng. Song thân ơi, bạn bè ơi, chúng sinh ơi… chén đắng trên cỏ xanh này một mình xin uống. Kiếp này và muôn kiếp về sau. Nguyện cầu…”

Xem thêm:   Người đi về hướng gió... và những đốm lửa hắt hiu

Nhớ Vu Lan năm nào, Hòa Thượng Thích Quảng Ðộ nhắc nhở chúng ta, rằng theo Kinh Phật dạy, chúng sanh trong vô lượng kiếp, đều là cha mẹ thân thuộc lẫn nhau. Cho nên, cúng dường cha mẹ, đồng thời cũng cúng dường tất cả chúng sanh. Và mùa Vu Lan báo hiếu, trong truyền thống văn hóa Việt Nam, đã biến thành Mùa Xá Tội Vong Nhân. Do đó, rằm tháng Bảy còn là ngày tưởng nghĩ đến những người đã chết thất tán, không nơi nương tựa.

Tháng Bảy Ngày Rằm xá tội vong nhân, cầu cho linh hồn người chết được siêu thoát. Chính trong tinh thần đó, và với lòng thương tưởng bao la của một nghệ sĩ  lớn, Nguyễn Du đã viết Văn Tế Thập Loại Chúng Sinh, tức Chiêu Hồn Ca. Và kêu gọi những hồn tản lạc, lôi thôi bồng trẻ dắt già, ai khôn thiêng đó lại mà nghe kinh… Với chúng ta, từng dấn thân vào cuộc chiến dài hai chục năm trên đất nước mình, đã chứng kiến bao nhiêu bè bạn đồng bào ruột thịt gục ngã, rồi kể từ Tháng Tư Mùa Xuân Ðen 1975, số người tìm cách vượt thoát, bỏ thân trên rừng trên biển có đến hàng trăm ngàn người. Làm sao chúng ta ở phương trời này quên được những bạn bè anh em thân nhân đó của chúng ta. Vậy trong Mùa Vu Lan, xin hãy cùng nhau thắp lên nén hương tưởng niệm và cầu nguyện cho những hồn oan ruột thịt được siêu thoát. Và trên tất cả, hãy cám ơn mảnh đất này đã chấp nhận chúng ta, cho chúng ta cơ hội sống và làm lại cuộc đời, nghĩa là phục sinh từ những đổ vỡ ngày qua:

cùng với mọi người. tôi nối vòng tay

và cảm ơn thế giới đã cho tôi chỗ ở

khi nước mất nhà tan. bạn bè xiêu tán. thập loại chúng sanh mờ đồng rừng…(NXT)

Vu Lan, từ đó, với chúng ta, mang một ý nghĩa vô cùng thâm sâu vậy.

TN – Tổng hợp