Giữa đại ngàn hoang sơ đầy nắng và gió, tượng nhà mồ Tây Nguyên trông giống những chứng nhân lặng lẽ bộc lộ thế giới tâm linh đầy huyền bí của các dân tộc người bản địa như Jrai, Bahnar, Ê Đê, Xơ Đăng… Không chỉ là đỉnh cao của nghệ thuật điêu khắc gỗ dân gian thô mộc, quần thể tượng mồ bao quanh những ngôi nhà mộ còn chứa đựng những câu hỏi chưa có lời giải đáp trọn vẹn về triết lý nhân sinh, nhân chủng học và bản ngã của con người trước cái chết.

Người Tây Nguyên và quan niệm về cái chết

Ðể hiểu được lý do vì sao những bức tượng nhà mồ ra đời, trước hết phải bước vào tư duy nguyên thủy của người Tây Nguyên về sự sống và cái chết. Với đồng bào nơi đây, cái chết không phải là sự chấm dứt. Đó đơn thuần chỉ là một sự chuyển giao, một chuyến đi dài hạn từ cõi tạm (mang) sang cõi vĩnh hằng (pơ-sat) thuộc thế giới của tổ tiên và các thần linh (Giàng).

Tuy nhiên, hành trình chuyển giao này không diễn ra ngay lập tức. Sau khi một người qua đời, linh hồn của họ được cho là vẫn còn vẩn vương quanh thế giới người sống, ẩn náu đâu đó quanh mộ phần của mình. Chỉ đến khi Lễ bỏ mả (Pơ-thi) diễn ra, mối liên kết giữa cõi âm và cõi dương mới thực sự chấm dứt. Khi đó nhà mồ được xây dựng và những bức tượng mồ được mang tới lắp đặt chung quanh hàng rào. Chúng sẽ đóng vai trò như những “linh vật” được người sống gửi gắm để hầu hạ, trò chuyện cùng người chết nơi thế giới bên kia.

Tượng nhà mồ Tây Nguyên

Nét đa dạng tượng nhà mồ Tây Nguyên

Xem thêm:   Không phải ở Việt Nam

Thế giới tượng nhà mồ Tây Nguyên rất phong phú, phản ảnh khá đầy đủ những sắc thái hỉ, nộ, ái, ố của một đời người. Khác với vẻ u uất thường thấy ở nghĩa địa miền xuôi, nghĩa địa các chủng người dân tộc nhìn qua lăng kính tượng nhà mồ lại hiện lên tràn đầy sức sống và hơi thở trần thế. Trong đó bao gồm:

– Nhóm tâm trạng: Là những bức tượng người ngồi gục đầu, hai tay bó gối, nét mặt trầm tư/đau đớn (được ví như tác phẩm “Le Penseur” của điêu khắc gia – họa sĩ người Pháp Auguste Rodin). Đó là hình ảnh mô phỏng những người thân đang khóc thương, canh giữ giấc ngủ cho người quá cố, thể hiện tình cảm quyến luyến, xót xa.

– Nhóm phồn thực: Là những bức tượng người phụ nữ mang thai, hay những bức tượng đặc tả, phóng đại cơ quan sinh dục nam/nữ. Giữa một không gian dành cho cái chết, sự hiện diện của biểu tượng phồn thực mang theo thông điệp: Cái chết là khởi đầu của một sự tái sinh mới, sự sống sẽ tiếp tục nảy nở từ lòng đất mẹ bao dung.

– Nhóm sinh hoạt đời sống: Những bức tượng người đánh trống, thổi khèn, giã gạo hay hình ảnh người phụ nữ địu con đi rẫy, cho con bú… nhằm phác họa viễn cảnh ấm cúng ở thế giới bên kia.

– Nhóm động vật: Tượng chim pơ-rơ-tốk, chim bồ chao, chim công, con khỉ, con chó… là những con vật hiến tế đồng thời là biểu tượng kết nối giữa con người với thiên nhiên.

Nghệ nhân tạc tượng

Những bí ẩn chưa có lời đáp

Xem thêm:   "Chiếu, chổi đây!"

Bên cạnh giá trị mỹ thuật độc đáo, tượng nhà mồ Tây Nguyên còn có những huyền bí bao quanh quy trình chế tác và sự tồn tại của chúng. Chẳng hạn điều kỳ lạ đầu tiên nằm ở những người tạc tượng. Họ không phải là nhà điêu khắc chuyên nghiệp được đào tạo qua trường lớp mà chỉ là những người dân bình thường sống trong buôn làng. Họ không cần bản vẽ phác thảo, cũng không dùng thước đo chuẩn xác. Khi lễ Pơ-thi cận kề, họ sẽ đi vào rừng sâu, đốn hạ một số cây gỗ (cây gạo, cây cà chít) rồi mang ra khu nghĩa địa. Công cụ của họ khá thô sơ, thường gồm một chiếc rìu (jong) hay con dao rựa (chà gạc). Tiếp theo họ sẽ phóng tác nên những đường nét hình khối truyền cảm và đầy góc cạnh. Khi thử hỏi nguồn cảm hứng hay cách thức tạo hình, nhiều nghệ nhân trả lời: “Do Giàng bảo làm vậy!”. Dường như có một niềm tin tâm linh rằng trong lúc đục đẽo tượng, người thợ đã rơi vào trạng thái tâm lý nhập đồng hoặc xuất thần, nơi đôi tay họ được dẫn dắt bởi thế giới vô hình của các linh hồn.

Nhà mồ sau lễ bỏ mả

Quy trình tạc tượng còn phải tuân theo những cấm kỵ và quy tắc khắt khe của từng bộ tộc. Chẳng hạn gỗ dùng tạc tượng mồ tuyệt đối không được mang vào buôn làng. Nếu bắt buộc phải đi xuyên qua, gia đình phải làm lễ hiến tế heo, bò để tạ lỗi với “ma làng”. Người Tây Nguyên chỉ dùng 3 màu cơ bản cho việc trang trí tượng mồ: Đen (than củi), Trắng (vôi hoặc đất sét trắng) và Đỏ (một loại đá mài khor trộn với nhựa cây po-pẹ). Ngoài ra còn có một bí ẩn khác của tượng nhà mồ là số phận của chúng sau lễ bỏ mả. Lễ này khép lại bằng những tiếng cồng chiêng rộn rã, thâu đêm. Song cũng ngay sau đó, những người sống cùng nhau đi về nhà và vĩnh viễn không bao giờ quay trở lại ngôi mộ nữa. Khu nhà mồ và những pho tượng gỗ sẽ bị bỏ mặc hoàn toàn cho thời gian, mưa gió hủy hoại. Chúng dần hư hỏng, mục nát rồi hòa tan vào lòng đất mẹ. Người Tây Nguyên xem sự tự hủy diệt này là lẽ tự nhiên: Linh hồn đã đi gặp tổ tiên, ngôi nhà tạm và những người bạn bằng gỗ kia đã hoàn thành sứ mệnh tiễn đưa nên cũng cần phải khép lại vòng đời của chúng.

Xem thêm:   Tập Cận Bình

…Ngày nay, dưới tác động của làn sóng hiện đại hóa và sự thu hẹp của các cánh rừng già, không gian văn hóa nhà mồ Tây Nguyên đang đối diện với nguy cơ bị xóa sổ. Rất nhiều ngôi mộ được bê tông hóa, gỗ rừng khan hiếm khiến tập tục tạc tượng mồ truyền thống không còn giữ được nét nguyên sơ vốn có. Những nghệ nhân am tường luật tục và có đôi tay tài hoa ngày một thưa thớt. Dù vậy, những pho tượng nhà mồ còn sót lại tại các buôn làng xa xôi vẫn luôn là một ẩn số văn hóa đầy mê hoặc. Chúng là tinh hoa kiến trúc dân gian, là chiếc chìa khóa vàng giúp hậu thế mở cánh cửa bước vào tâm hồn phóng khoáng, vừa bí ẩn vừa sâu sắc của con người đại ngàn Tây Nguyên.

Những bức tượng nhà mồ Tây nguyên phổ biến

Bài và hình NS