Trong một lần trả lời phỏng vấn trên đài BBC, nhà văn Nguyễn Viện từng nói “Chỉ trong tự do, con người mới thật sự là mình. Và chỉ khi con người biết đổi mới, mới có tiến bộ”.

Nhìn những tác phẩm của ông từ tập truyện đầu tiên “Trinh Nữ” viết năm 1995, xuất bản tại Việt Nam, đến cuốn tiểu thuyết mới nhất “Có những kẻ đi mãi không về” xuất bản năm 2026 tại Hoa Kỳ là một quá trình xuyên suốt của một nhà văn luôn giữ phẩm giá của người đã được đào tạo trong lòng “miền đất của tự do” Saigon từ trước 1975, một Saigon với bầu không khí trí thức và khoáng đạt, tôn trọng sự khác biệt chính kiến của nhau, một môi trường học thuật tự do và mã thượng mà ngày nay không còn nữa. (2)

Nguyễn Viện là một nhà văn dám đi con đường solo để viết về những biến động của đất nước trong và sau chiến tranh, khắc họa nỗi tuyệt vọng, hy vọng, và số phận của con người trong cuộc bể dâu.

Nhà văn Nguyễn Viện tự xuất bản sách sau khi cuốn “Thời của tiên tri giả” được NXB Công an nhân dân ấn hành năm 2003 nhưng sau đó bị thu hồi, từ đó ông tự xuất bản tác phẩm cuả mình và hầu hết được phát hành ở nước ngoài. Từ năm 2003 đến nay, ông xuất bản 21 tác phẩm gồm tiểu thuyết, thơ, tập truyện, truyện kịch, cổ tích mới.

Nội dung chính trong những tiểu thuyết của ông là tinh thần phản kháng và trăn trở trước các vấn đề thời cuộc và bi kịch con người.

Cuốn tiểu thuyết mới nhất “Có những kẻ đi mãi không về” do NXB Nhân Ảnh ở Hoa Kỳ in năm 2026, tôi đọc vào những ngày hè rực nắng tại Châu Âu. Chỉ trong 162 trang ông gói gọn cuộc đời một con người từ khi sinh ra đến khi lìa trần, thông qua đó nói lên bi kịch con người sống trong một đất nước chiến tranh, con người không thể làm chủ được chính mình, lịch sử phi lý đã đẩy con người lưu lạc khắp nơi, cảm giác con người không có nơi nào thuộc về mình. Cuộc đời của họ luôn luôn là sự trốn chạy, là sự lựa chọn giữa hai chiến tuyến, không lựa chọn phe cũng không xong. Cuối đời họ khao khát trở về tìm lại chốn xưa chỉ là ảo ảnh. Với hơn 100 trang sách, tác giả tái hiện xã hội Miền Nam Việt Nam trong thời hiện đại từ 1954 đến 1975 thời nội chiến giữa hai miền Nam – Bắc, miền Bắc theo chủ nghĩa cộng sản có Liên xô, Trung Quốc hậu thuẫn; Miền Nam theo chủ nghĩa tư bản tự do có Hoa Kỳ hậu thuẫn, Việt Nam trở thành cuộc chiến ủy nhiệm của hai thể chế. Lịch sử như một bi hài kịch trên sân khấu, con người là một diễn viên trong vở tuồng mà mình không thể làm chủ. Con người bị tha hóa, biến dạng trong một xã hội nhiễu nhương đầy hỗn loạn. Du đãng, đĩ điếm, nhà sư, chính trị gia, người lính giữa hai chiến tuyến, cộng sản và cộng hòa, gia đình ly tán, anh em chia phe, rồi thống nhất, rồi đói khổ, con người đi tìm một chốn bình yên hẻo lánh, cứ ngỡ cuối đời sẽ yên bình, nhưng rồi đất nước phát triển, mảnh đất đẹp bên bờ suối trở thành miếng mồi béo bở, ước mơ cuối cùng bị thu hồi làm dự án. Kết thúc, trải qua bao lựa chọn, bao sự trốn chạy, nhân vật chính trở về với hư vô. Cái còn lại chỉ là cái tên khắc trên tảng đá dưới bóng những cây lim. Chết đi không năm tháng, không nơi chốn. Một con người không đến và không đi.

Xem thêm:   Chống ngập

Gấp lại cuốn sách, cảm giác trong tôi là một nỗi buồn, nỗi buồn của sự phi lý của kiếp con người.

Câu hỏi: Ta là ai, ta từ đâu đến? tồn tại để rồi chết, vẫn là một thao thức hiện sinh muôn đời của nhân loại.

Với lối viết theo chủ nghĩa tối giản, đây là một tiểu thuyết ngắn, cô đọng và sâu sắc, đạt được hiệu ứng thẩm mỹ đối với người đọc. Khí hậu trong truyện bàng bạc hư ảo, đậm chất hiện sinh. Có lẽ, đây là cuốn tiểu thuyết ông viết với cái nhìn trung dung nhất về cuộc chiến ở từ hai phía, không có sự cay độc như những cuốn tiểu thuyết khác, tôi nghĩ nó có sự chiêm nghiệm và bình thản. Sau hơn 50 năm ngày chấm dứt chiến tranh, đủ độ lùi để người ta nhìn lại những gì đã qua một cách thấu đáo hơn, tường tận hơn.

Tôi có cảm giác làng Rume, nơi trăm mái nhà tranh được rừng bao dung che chở, một khu rừng biệt lập hẻo lánh, quê hương của nhân vật chính Thạch Xung, chính là một ngôi làng ở Rạch Bắp 4, Bến Cát, tỉnh Bình Dương, đó là nơi gia đình nhà văn Nguyễn Viện từ Bắc di cư vào Nam năm 1954 đến đây khai phá năm ông mới 5 tuổi, ông trải qua thời hoa niên với bao kỷ niệm ở chốn này. Năm 1961, khi 12 tuổi gia đình ông bỏ làng quê Bến Cát chạy vào Saigon khi chiến tranh lan đến. Chính ký ức và những kỷ niệm êm đềm về một vùng rừng núi thanh bình đã đi vào tiềm thức của ông thời niên thiếu, khi viết tiểu thuyết này ông tái tạo lại như giữ gìn một ký ức đẹp. (2)

Tôi ngờ rằng nhân vật Thạch Xung chính là một phần của tác giả, mặc dù cuộc đời của nhà văn không phải như vậy.

Viết về tiểu thuyết “Có những kẻ đi mãi không về” đã có nhiều người viết, và họ viết rất hay. Trong bài này, tôi chỉ nêu vài cảm nhận của một người đọc như trên.

Xem thêm:   Từ câu chuyện chiếc cầu đã gãy

Đọc Nguyễn Viện tự nhiên tôi nghĩ đến nhà văn Cung Tích Biền, ở hai nhà văn này có những tương đồng thú vị.

Tại sao ngay lập tức tôi lại liên tưởng đến nhà văn Cung Tích Biền? Trong khi đọc tiểu thuyết “Có những kẻ đi mãi không về” Phần 2 gồm 8 mục, trong đó đã có 6 mục viết về mùi gồm: Ký ức của mùi; Mùi thú hoang; Mùi ở chân mây, Mùi tiết canh, Mùi chuột đồng, Mùi của cái chết. Ngoài ra còn có “Mùi người” ở Phần 1. Chỉ riêng việc đặt tên cho các đầu mục đã thấy tầng tầng ẩn dụ mà tác giả muốn phản ảnh. Tôi nghĩ ngay đến tân truyện “Mùi của gió mùa” của Cung Tích Biền, ông cũng nói về mùi, cũng có những đề mục ẩn tàng nhiều ẩn dụ như vậy: Xứ động vật mưa hồng; Xứ động vật vào ngôi; Xứ động vật màu huyết dụ…

Nguyễn Viện và Cung Tích Biền là hai ngòi bút mang nặng ưu tư thời thế của đất nước trong dòng Văn học Việt Nam.

Chúng ta có thể nhận ra hai phong cách khác biệt về ngôn ngữ và thủ pháp nghệ thuật.

Về ngôn ngữ nghệ thuật:

Nhà văn Nguyễn Viện thường dùng ngôn ngữ gai góc, mang tính triết lý pha trộn với ngôn ngữ dung tục, đôi khi sống sượng, trần trụi, táo bạo (thường đề cập đến dục tính), mang tính phá cách, để lột tả trực diện sự tàn bạo, phi lý của thực tại đời sống. Câu văn thường ngắn, mang âm hưởng đối kháng.

Với Cung Tích Biền ngôn ngữ của ông đậm chất thơ, u buồn, nhiều hoài niệm, ẩn khuất nhiều tầng ẩn dụ. Văn phong trầm đều, giàu hình ảnh biểu tượng, tạo ra bầu không khí huyền ảo, ám ảnh.

Thái độ ứng xử trong tác phẩm của Nguyễn Viện thường không né tránh chính trị, ông phơi bày sự thật ê chề của nhân thế, với cái nhìn cay đắng, châm biếm, phản kháng và trực diện. Nhân vật trong tác phẩm của ông hiện lên giữa những đổ vỡ đạo đức, bị chi phối bởi bản năng và dục vọng. Trong khi đó, thái độ ứng xử của Cung Tích Biền là trầm mặc, chiêm nghiệm minh triết. Nhân vật trong tác phẩm của ông thường là những con người cô đơn, bơ vơ lạc loài giữa cõi người vô định, chịu nhiều tổn thương vô lý, bằng một khí hậu trống rỗng, buốt lạnh của những linh hồn, xác, máu.

Tuy nhiên hai nhà văn đều có một điểm chung: Cả hai đều khước từ sự dễ dãi. Họ nhìn thấy mặt trái, sự đổ nát và phi lý của lịch sử để rồi trút vào trang viết những nỗi đau của thân phận con người.

Nguyễn Viện và Cung Tích Biền đều là hai nhà văn: Khẳng định quyền tự do sáng tác tuyệt đối.

Cả hai đều không chấp nhận việc lệ thuộc vào sự kiểm duyệt của chính quyền, và họ tự in ấn, xuất bản, chịu trách nhiệm theo ý của riêng mình. Cung Tích Biền có NXB Một Mình. Nguyễn Viện có NXB Cửa.

Xem thêm:   Nói chuyện với rặng bần

Với Cung Tích Biền: sau năm 1975 ông tự cô lập bằng cách sống ẩn mình, đoạn tuyệt với những mối quan hệ không cần thiết, giữ vị thế cô đơn để trọn vẹn cuộc hành nghiệp. Ông lặng lẽ chiêm nghiệm, miệt mài sáng tác và hơn 30 năm sau, tự mình xuất bản chỉ để lưu lại cho đời Bộ Tổng Tập Văn chương gồm trên 10 quyển, non 7,000 trang sách. Trong lời đề từ ông ghi rõ: “NXB Một mình. Có mục đích bảo lưu tác phẩm và tác quyền của tác giả. Việc phổ biến có giới hạn, không lệ thuộc vào bất cứ điều luật nào hạn chế việc Tự do phổ biến Tác phẩm”.

Theo nhà văn: “Tác phẩm, mới là cái Có-Mặt. Mới là thường-trực-trả-lời. Một thường-trực-trả-lời, trong hoàn cảnh Việt Nam hôm nay, phải là một trung-thực-chịu-nạn”. Và Cung Tích Biền chấp nhận “Đành lòng sống trong phòng đợi của lịch sử” (4)

Với Nguyễn Viện, thiên chức của người viết là sáng tạo một cách trung thực và tự do nhất. Việc gửi bản thảo qua hệ thống kiểm duyệt của các nhà xuất bản trong nước đồng nghĩa với việc chấp nhận để người khác cắt xén, sửa đổi hoặc định hướng nội dung đứa con tinh thần của mình. Ông cho rằng chất lượng và giá trị của một cuốn sách phải do chính người đọc đánh giá và lựa chọn, chứ không phải do một cơ quan hành chính quyết định thay cho họ. Trong một lần trả lời phỏng vấn: Tại sao tôi chọn chỗ đứng underground hay ngoài luồng?

Nguyễn Viện viết: “Chế độ kiểm duyệt ấy đã tước bỏ quyền được độc lập và tự do trong tư tưởng và sáng tạo của nhà văn. Vì thế, chẳng còn cách nào khác, vì phẩm giá của sáng tạo, tôi buộc phải từ chối khuôn khổ của chính thống để bước ra ngoài luồng, vỉa hè, underground”. (3) Chính vì vậy ông đã tự đứng ra xuất bản sách của mình với tên gọi NXB Cửa.

Dĩ nhiên, nhà văn Nguyễn Viện thừa biết rằng, không được xuất bản chính thống, bày bán rộng rãi trong nước thì tác phẩm sẽ ít người biết đến và sẽ ít người đọc, đó chính là nỗi đau của người viết khi không có độc giả.

Nguyễn Viện là nhà văn luôn giữ phẩm giá của một người được giáo dục, được hấp thụ bầu không khí học thuật tự do của Saigon Việt Nam Cộng Hòa, dù thời thế sau này đổi thay, tinh thần ấy mãi theo ông cùng năm tháng qua những trang viết.

Nguyễn Viện là người viết “Ngồi bên lề rất trái” là vậy.

Trong đời sống Văn học Việt Nam đương đại, Nguyễn Viện nổi bật là một nhà văn độc lập, mang tinh thần cách tân hậu hiện đại.

BM (19.9.2026)