“…Chỉ là những câu chuyện vụn vặt được chắp nối qua những mảnh đời dân quê miệt kinh rạch hầu san sẻ cùng bạn trẻ, những người chưa hoặc không có dịp sống gần gũi với dân ruộng về các miền kinh rạch ấy như một nét đặc thù của văn minh Việt bên cạnh một nếp “văn minh miệt vườn” khá sung túc, trù phú…” (Hai Trầu Lương Thư Trung).

Luôn tự nhận mình là một “người nhà quê”, nhưng ai cũng hiểu là cách nói khiêm cung của một học giả, kiến thức quảng bác, như bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc trìu mến nhận định “Nó là văn chương miệt vườn. Sau này muốn biết về miền Nam mưa nắng hai mùa ra sao thì phải đọc Sơn Nam và Hai Trầu thôi.”.

Mời bạn cùng chúng tôi dạo chơi cùng mưa nắng miền Nam…

(tiếp theo)

Lại đưa ông táo

Kinh xáng Bốn Tổng ngày… tháng giêng, năm 2004

 

Vợ chồng chú Út sắp nhỏ,

Hôm nay còn không mấy ngày nữa ở kinh xáng Bốn Tổng mình bà con sắp đưa ông Táo dìa Trời rồi! Anh Hai mới có mấy lời này gởi qua thăm hai em và các cháu được mạnh giỏi, làm ăn hưng phát. Ở bên nhà, lúc rày lúa ngoài đồng đang vào cữ vàng mơ, một vài miếng đất gò có mấy vạt lúa sạ trước có vài nhà cắt gặt sớm nên cũng đỡ phần chạy gạo cho ba ngày Tết. Riêng phần anh chị, từ hơn năm năm nay tuổi già sức không được mạnh nên đất cát giao cho sắp nhỏ làm, chỉ còn lại cái nghề đan thúng đan rổ bán cầm chừng mua vài gói trà Chánh Hương uống cho ấm bụng lúc tuổi già. Thời gian bây giờ sao mau tối mau sáng quá mạng!

Hôm rồi, tui có dìa dưới Lấp Vò thăm mồ mả ông bà, đốc thúc con cháu lo giẫy cỏ mả quét vôi lại các mộ phần ông cố, ông nội và tía má, tui mới gặp chị năm Thảnh, con dâu chú hương quản Minh, má của thằng Long, năm nay vậy mà chị ấy cũng đã già quá mạng. Tóc bạc phơ nhưng chưn cẳng còn mạnh. Tới thăm chị lúc chị đang chăm sóc mấy luống rau thơm. Chỉ mừng lắm. Nói sao lâu quá không thấy cậu và cậu Út nó dìa thăm bà con chơi.

Tui thì đổ thừa bận bịu với sắp nhỏ quanh năm, không làm gì cực khổ nhưng cũng ít lúc rảnh rang. Còn phần chú, tui nói lâu lắm rồi, có tới hơn hai mươi ba năm rồi chú ấy vẫn chưa dìa thăm nhà lần nào. Chị năm hỏi sao lâu dữ vậy? Tui nói chắc chú Út chưa có tiền vì còn phải lo cho sắp nhỏ học hành.

Chị lại nói sao thấy Việt kiều dìa quê ăn Tết quá mạng, sao không nhắn chú ấy dìa thăm một chuyến, kẻo tui già quá, chừng chú ấy dìa được chắc tui đi đứt từ lâu!

Nghe chị Năm nói vậy tui cũng mủi lòng. Thương chị ấy nhớ em út mà cũng thương cho tui, cho chú, mình mỗi ngày mỗi già mà một lần hội ngộ coi mòi cũng khó. Mỗi người mỗi hoàn cảnh phải hông chú Út? Không lấy hoàn cảnh người này mà sánh với người khác được. Vả lại, cho dù có dià thăm bà con được hay chưa có cơ hội để dìa, cái lòng của người viễn xứ chưa chắc gì đã đánh mất tình chòm xóm láng giềng dù có xa cách mấy chục năm biền biệt. Rồi tui mới nhớ tới chú và mấy người bà con trong kinh cùn này, năm nào cũng nhận chút ít quà của chú gởi dìa, mỗi người một chút góp lại nhiều người, nhiều lần, nhiều năm, tiền bạc chất cao thành đống, thành đống, cho tui làm con toán cộng thử, ra con số lập thành là tấm lòng của chú càng bao la vô bến vô bờ, biết lấy gì đong cho vừa!

Xem thêm:   Lá Thư Từ Kinh Xáng 1 (kỳ 29)

Thành ra, không thể trách người dìa thăm bà con là có lòng hơn người chưa dìa lần nào. Nhiều khi mấy ông già mượn cớ dìa thăm bà con, rồi chẳng ở với bà con gần được mấy ngày lại đi tìm bà con xa mà kết nghĩa thề bồi bướm hoa trăng gió cho thoả cái mơ ước tầm phào ngũ uẩn. Mình thì chẳng dám trách ai, chỉ nghĩ mà thương cho hạng người tuổi tác chẳng mấy chốc mà đã tới lúc trăm năm!!!

Ai đó từng nói thời gian là liều thuốc hàn gắn mọi vết thương, nhưng tui lại thấy thời gian cũng làm cho người ta mau già dữ lắm. Mới Tết năm rồi, giờ lại sắp Tết nữa. Nhớ hồi nhỏ mình còn ngủ chung mùng, chung chiếu dưới vườn tre lúc chạy giặc vô miệt Cái Sắn bên bìa ruộng bác Ba Thận, lúc ấy sao quá vui.

Chiều chiều nhìn về hướng núi Sập mờ mờ ngọn núi thấp qua làn khói đốt đồng lòng khấp khởi theo những cánh cò trắng từ đâu đâu bay về đậu rợp các đọt tre bên bờ kinh xáng Cái Sắn đổ về Rạch Giá, lòng tràn ngập một thời ấu thơ vô tư lự. Lâu lâu, có vài xác thằng chỏng chết trôi trên sông Cái tấp vô mấy đống chà, không đứa nào dám chạy xuống mé sông để mà nhìn.

Từ khi còn nhỏ như vậy là đã biết sợ xác chết trôi trên sông, sợ ma cỏ rồi. Đến khi lớn lên chút nữa, mỗi bận đi học trường làng phải đi ngang qua các đất nhị tì, tui hay nắm tay chú chạy có cờ. Nhứt là mỗi lần đi ngang qua cây sộp, gốc bằng cái lu mái vú, nghe đồn có con ma vú dài hay đón bà con đi chợ khuya, tui với chú dắt tay nhau chạy vù vù mong thoát nạn ma nhát. Lúc bấy giờ, thời loạn lạc, ông bà xưa hay nói là thời “âm thịnh, dương suy”, ma quỷ lộng hành dữ lắm.

Không biết chú còn nhớ nhiều địa danh ở quê mình ma nổi tiếng một thời hông? Chợ mảnh ma tại vàm Xáng Nhỏ là số một. Vườn tược sầm uất, mả mồ chôn loạn xạ xà ngầu, nay xiêu mai lạc, không người trông coi tu bổ nên các oan hồn nhập bọn nhóm chợ thành ma, nên bà con vùng Tân Bình mới gọi vàm xáng Nhỏ là chợ mảnh ma. Rồi nào là chòm cây Ba gian, bờ lộ xe hơi, gốc cây vừng có cái miễu hội, láng ông Tà và nhiều chỗ khác ma cỏ hoành hành dữ lắm, không kể xiết. Các nơi đó nếu mình đi bắt cóc, cắm câu, đặt trúm, đặt lờ, gài bẫy cò ke là gặp toàn là cóc ma, cá ma, lươn ma, tôm ma, cò ma ráo trọi. Ghê lắm! Vừa móc mồi câu, đi xa chưa đầy năm mười thước là nghe cá vẫy đùng đùng, quầy trở lại là chẳng thấy tăm hơi gì, thế là biết cá ma nhát mình rồi! Thấy cá đó mà không phải là cá. Thấy cò vẫy bành bạch đó mà đến gần bẫy cò ke chưa bật, còn nguyên.

Cái thời quỷ vương đi đứng nữa lừng nhớ lại mà phát ớn hồn. Nay mình già rồi, nhớ lại hồi còn con nít, có nhiều cái sợ mắc tức cười. Ngày nay, văn minh lan tràn, truyền hình, ra dô đầy dẫy nên làm cho ma cỏ giạt đi về miệt Bảy núi ráo trọi. Chắc bây giờ mấy oan hồn cũng đi tu hoặc đi đầu thai kiếp khác hết rồi. Tôi hy vọng vậy!

Chú Út sắp nhỏ,

Nhân nhắc tới ba cái truyền hình, tui mới nhớ hồi tranh cúp túc cầu thế giới hồi năm nẳm tận bên Nhựt Bổn và Đại Hàn, ở kinh xáng Bốn Tổng mình như mùa hát bội dìa đình. Bà con ghiền đá banh xúm xít lại nhà ông Tám Bộn vàm Ba Bần coi không sót một trận, vui lắm. Để tui bình tâm nhớ lại trận chung kết giữa hai đội banh của hai nước Đức và Ba Tây nó hồi hộp và hào hứng dữ lắm và kể lại chú nghe chơi như món quà Tết bên nhà mà tui riêng tặng chú vào dịp mấy ngày đầu năm cho bên ấy chú bớt phần giá lạnh giữa tiết Đông hàn. Dạo ấy, khoảng tháng sáu, mùa Hè, năm 2002, sau hơn hai mươi hai ngày tranh hùng giữa 32 đội banh của 32 nước gạo cội trong làng túc cầu thế giới, cứ bốn năm mở hội một lần, tui mới thấy cái nghiệp mê đá banh và cái nghề đá banh có nhiều cái không cắt nghĩa nổi chú Út à!

Xem thêm:   Hạnh phúc của mẹ

Số là lần tranh hùng trên sân cỏ kỳ vừa rồi có nhiều cái nó không còn theo thứ tự mạnh được yếu thua nữa, mà nó có nhiều cái bứt phá ra khỏi cái giềng mối trật tự khe khắt tự bấy lâu nay. Chính vì cái sự đảo lộn ấy mà cái môn thể tháo này mới không làm người xem đá banh nhàm chán như nhiều môn chơi khác.

Sân cỏ có trọng tài là vua rồi, nhưng những nước cựu vua lại rớt ngôi như sung rụng. Để tui lược lại sơ sơ cho chú Út nghe nhe. Mở màn là nước Pháp, đương kim vô địch thế giới hồi năm 1988 tranh hùng cùng với nước Ba Tây một thời có vua sân cỏ Pê-Lê, con gà trống cồ Pháp quốc đã đánh bại đối thủ bằng tỉ số không gỡ được là 3-0, giành chức vô địch vang dội khắp hoàn cầu. Vậy mà rồi, kỳ này, năm 2002, đội Pháp, đương kim vô địch thế giới, lại để thua xiểng niểng, xách gói ra dìa ngay những trận vòng ngoài. Còn đội Ba Tây thì lù lù tiến vô tới trận chung kết một lần nữa mà chưa thua trận nào, quả là điều hiếm thấy. Và coi mòi chiếc cúp vàng bị Pháp lấy trên tay bốn năm trước, nay có nhiều cơ may trở lại đội banh của xứ sở có những chiếc áo vàng. Tiếp theo Pháp, vào buổi đang hồi quyết liệt ấy, chú có còn nhớ hông, Á-Căn-Đình cũng dìa sớm; rồi nào là Ý-Đại-Lợi, Tây-Ban-Nha, Bỉ, Mễ-Tây-Cơ, Đan-Mạch, Ăng-Lê lót tót theo sau như sung rụng.

Chuyện tranh hùng thời nào cũng vậy, có thắng có thua chú Út à! Nên chi tui cũng không muốn bàn thêm làm gì. Chỉ có điều việc qua rồi, mình nhìn lại thấy lần tranh cúp hồi năm 2002, có nhiều cái lạ là các nước ít có tiếng lại có cơ may làm bàn trong nhiều trận quyết định. Chẳng hạn như đội banh của Mỹ, Đại Hàn, và Nhứt Bổn. Nhưng nước Nhựt thì ở vòng 16, tui thấy đã có hơi mệt rồi. Còn Mỹ thì được vô tới tứ kết, một điều mà phải mất 70 năm sau mới có một lần. Và đặc biệt, Đại Hàn kỳ này vô tới vòng bán kết, quả là một kỳ công, một nước Châu Á vùng lên giữa cầu trường dù sau đó bị thua đôi banh của Đức để xuống tranh hạng ba tư, tui thấy cái hào hứng của sân cỏ là vậy.

Mà quả thiệt, đội banh Đại Hàn đứng hạng tư, kể ra, so với nhiều nước khác đã là hay quá mạng rồi. Tiếp theo đó, một buổi chiều nắng Hè đẹp biết chừng nào khi đội Ba Tây lại giành lại được cúp vàng thế giới trước đội Đức với tỷ số 2-0 do hai bàn thắng của Rô-Nal-Đô, cầu thủ mang số 9 mà tui mến mộ nhứt đó chú Út, đã làm cho kỳ tranh cúp vô địch thế giới năm 2002 trở lại truyền thống của môn túc cầu thế giới đúng nghĩa. Phải những nước mạnh như vậy gặp nhau vào trận thư hùng đầy hào hứng như vậy mới xứng đáng đồng tiền bát gạo, phải hông chú Út?

Rô-Nal-Đô trong kỳ tranh cúp năm 2002 – nguồn The Mirror

Chú Út ơi,

Xem thêm:   Suy Đi Ngẫm Lại (03/19/2026)

Hồi năm đó, khi tiếng còi tan trận nổi lên, cả con kinh xáng Bốn Tổng mình thiếu điều muốn bể làng, ai nấy hớn hở giống như hồi xưa cúng đình có gánh hát bội lớn về làng, đông rần rần vui lắm. Bà con ai cũng ủng hộ đội Ba Tây, nên họ mừng lắm. Mà phải công tâm nhận ra rằng, cả hai đội Đức và Ba Tây lúc bấy giờ trong trận chung kết họ chơi quá đẹp. Đối thủ mình té, họ lại nắm tay dìu lên. Không có lấy một thẻ vàng, thẻ đỏ nào ráo trọi. Một trận cầu vừa hay về tài nghệ mà cũng đẹp về phong cách chơi banh. Thể thao đúng cái nghĩa của nó là bao giờ cũng quyết liệt, hào hứng và chơi đẹp. Chứ chơi cuội, bán độ rẻ tiền hoặc dùng mọi ma mãnh khác để giành phần thắng đều là phản thể thao ráo trọi. Phải vậy hông chú Út?

Qua hai bàn thắng làm thành cái vinh dự vẻ vang kỳ tranh hùng năm 2002 cho nước Ba Tây, cầu thủ Rô-Nal-Đô đã nâng được tỷ số bàn thắng trong các kỳ tranh cúp giải túc cầu thế giới là 12 bàn, ngang bằng với vua bóng tròn Pê-Lê đã ghi được trong các kỳ tranh cúp thế giới như vậy, một kỷ lục ít có cầu thủ nào đạt được trong đời đá banh của mình. Riêng trong kỳ tranh cúp năm 2002, Rô-Nal-Đô ghi tất cả là 8 bàn, quả là vua phá lưới rồi. Với chiến thắng kỳ đó, nước Ba Tây là nước dẫn đầu với năm lần đoạt cúp thế giới mà trên sân cỏ chưa có nước nào kham nổi.

Nhắc chuyện này, rồi chợt hồi tưởng lại lần tranh giải kỳ trước, năm 1988, Pháp ăn Ba Tây 3-0, nghĩ mà ngao ngán cho sự đời! Người hâm mộ Ba Tây thì la ó, còn các cầu thủ áo vàng buồn thúi ruột. Chiều hôm tranh chức vô địch với Đức năm 2002, các cầu thủ Đức cũng cùng tâm trạng với các cầu thủ Ba Tây của bốn năm về trước.

Cuộc chơi khác nhau nhưng tâm trạng kẻ thắng người bại dường như không có gì khác nhau cho lắm. Và lần nào cũng như lần nào, nó cứ là một điệp khúc được lập đi lập lại hoài hà! Cái bản nhạc của khúc khải hoàn ca luôn luôn có những nốt nhạc trầm chứa chan nước mắt của người thua trận đệm vào, làm cho các nhà vô địch nên dằn lòng xuống một chút để mai kia mốt nọ bớt ân hận khi đến lượt mình! Chuyện đời là vậy!!!

Chú Út sắp nhỏ,

Nhắc sơ sơ cái thắng và cái thua trên sân cỏ để nhân dịp Tết về, anh em mình ngồi bên tách trà bốc khói mà nghĩ lại mình. Ôn cố tri tân mà! Tiện đây, cũng xin nhắc lại trong thư trước chú có hỏi tui hồi trước có nghe tía nói “lúa chét” là lúa gì hông? Tui mới nhớ lại là vào lúc mùa cắt gặt xong, gốc rạ còn xanh, rễ còn bám đất mạnh, gốc rạ mới đâm thêm tược mới. Và lạ một điều là khi vừa đâm tược như vậy, loay hoay tược lúa mới này lại trổ bông hồi nào, nào ai biết. Và qua thời gian rất ngắn, mấy bông lúa này ngậm sữa và có gạo, mặc dù bông không lớn như thân lúa mẹ vào mùa, nhưng gặp mấy năm đồ khổ, người nghèo có thể bưng thúng đi mót lúa này dìa cho gà vịt hay cho mình ăn cũng đỡ đói và dân ruộng gọi loại lúa này là “lúa chét”.

(còn tiếp)