Nguyễn Lãm Thắng sinh năm 1973, quê Đại Lãnh, Đại Lộc, Quảng Nam. Tốt nghiệp cử nhân văn-họa Trường Đại học Sư phạm Huế năm 1998, hiện là giảng viên Khoa Ngữ văn Trường Đại học Sư phạm Huế.

Tác phẩm thơ đã in Điệp Ngữ Tình (2007), Giấc Mơ Buổi Sáng (2012), Họng Đêm (2012).

Phần nổi trong thơ Nguyễn Lãm Thắng là Lục Bát. Vẫn là nhịp sáu tám truyền thống nhưng cách nói đã khác nhiều người. Cách nói như cà rỡn, tưng tửng mà lại thâm trầm, ngậm ngùi trắc ẩn… Mặt khác, Nguyễn sử dụng nhuần nhuyễn phương ngữ đặc thù của miền Trung, nhiều câu chữ rất duyên, duyên ngầm, nhuốm chút màu hoài cổ (Thận Nhiên). Điểm nữa đáng chú ý là thơ Nguyễn Lãm Thắng trong từng câu từng đoạn vẫn đượm một nỗi buồn sâu lắng. SAO KHUÊ

đường vô thành nội

 

Bóng mình ngả với bóng cây

Phố như nón rách tàn phai đã nhiều

Người xuôi hướng, xe ngược chiều

Phố đông, mình vẫn hoang liêu với mình

 

Nắng xô lệch ngói Lương Ðình

Con chim khe khẽ khúc kinh đô sầu

Tượng gầy đứng ngó gạch nâu

Ðường vô trong Nội bạc màu nước non

 

Ngô đồng rựng giọt héo hon

Thần công coi bộ đã mòn hơn xưa

Chiều ni trời chẳng có mưa

Mà o con gái buồn chưa! Tội hè!

bạch đằng phố

 

Ngày lên rét buốt nắng vàng

Cỏ thơm phơi những sợi nhang khói lòng

Người về bãi Máu đó không?

Vết dao cứa sứt lời sông tự tình

 

Người đi giẫm đạp bóng mình

Nghe sông nước động hành trình hỗn mang

Ngậm ngùi nhớ bến Hàn giang

Mùi thương phế héo hai hàng lệ cay

 

Một ngàn ngày, một vạn ngày

Kéo dài thêm những vũng lầy tối tăm

Trọn đời nói những lời câm

Mà đau nhức nhối dấu dằm trong tim

 

Người về ngồi ngó lặng im

Bầu trời gãy những cánh chim lạc loài

Những vòng tay, những ngón tay

Cứ ôm cứ riết đắng cay đã đời

 

Mai về bên nớ người ơi!

Mắt thu gửi lại cho trời thu xưa

Nhẹ hèo bóng nắng hơi mưa

Người đi đi nhé! phố trưa đã già…

 

Xem thêm:   Trần Hoài Thư

hội an

 

Mộng xé đời sông thành bảy miếng

Cho khuya tụ máu vạt trăng rằm

Khỉ ngồi rưng đá sầu Lai Viễn

Nghe nhói trong chùa một vết đâm

 

Gót mỏi cứa mù sương phố cũ

Này vai ai tựa tóc ai nhàu

Này hương ngàn ngạt mùi trinh nữ

Và rượu làm phai phiến ngói nâu

 

Những ngõ xiêu gầy khêu phố nhỏ

Ðèn chênh chao dáng phố thêm nghiêng

Thơ lưng chừng phách chùng đen đỏ

Gác lạnh mờ phai chữ thánh hiền

 

đầu non cuối bãi

 

Co cái cẳng, gác cái tay

Phiêu phiêu, ta thích ngủ ngày với em

Kệ cha cơn gió khua rèm

Lá khô cứ rụng, chẳng phiền chúng ta

 

Một đàn ông, một đàn bà

Cộng đi, cộng lại, đoán là trăm năm

Một chỗ nằm, hai chỗ nằm

Cộng trừ thêm bớt vẫn đằm thủy chung

 

Ðâu khởi thủy? Ðâu cuối cùng

Lửa trong tim, vẫn cứ hừng hực reo

Một nghèo cộng với một nghèo

Níu nhau, ta cõng qua đèo tri âm

 

Một huyên náo, một lặng thầm

Trong hộ khẩu, khắc chữ tâm đỏ lòm

Dập dìu cuối bãi đầu non

Ca dao hát điệu bồng con í à!

 

cuối

 

Thưa em, anh biết… chết liền

Bàn tay năm ngón làm phiền bàn tay

Những đam mê, được phơi bày

Trong đôi mắt, chứa vạn ngày yêu thương

 

Anh về trích cú tầm chương

Bôn ba cắt nghĩa yêu đương là gì

Một hai ba bốn là si

Bốn ba hai một còn tùy nhân gian

 

Thưa em gió núi mây ngàn

Lang thang chưa hết đoạn tràng đâu em

Kiếp người mọc một cánh chim

Vờn trong bão tố, lướt miền trầm kha

 

Một đêm níu bóng trăng tà

Liêu xiêu hát khúc nguyệt ca lặng thầm

Dừng chân cuối bến cát lầm

Nghe lời trăng trối ngàn năm xanh lè.