(Viết nhân kỷ niệm 50 năm ngày mất của

Thi bá Vũ Hoàng Chương)

Nhắc đến Thi bá Vũ Hoàng Chương (Sinh năm Ất Mão 1915, mất ngày 06 tháng 9 năm 1976, Bính Thìn), bạn đọc ở lứa tuổi trung niên trở lên thường hay nhắc đến những câu thơ rất “thời thế” và “thời cuộc” của ông như: “Lũ chúng ta, lạc loài, dăm bảy đứa/ Bị quê hương ruồng bỏ, xóm làng khinh” hay “Lũ chúng ta, đầu thai lầm thế kỷ/ Một đôi người, u uất nỗi chơ vơ” (trích trong bài Phương Xa, của ông). Hoặc sau năm 1975, đôi câu đối được truyền tụng là của ông như một giai thoại là: “Nam kỳ khởi nghĩa tiêu Công Lý/ Đồng khởi vùng lên mất Tự Do!”.  Song bên cạnh ông còn là “Thi bá” của những bài thơ tình yêu trác tuyệt được người yêu thơ và cả “yêu nhau” truyền tụng…

Hai trong những bài thơ tình diễm lệ của ông là “cặp đôi” bài thơ cách nhau đến 30 năm, nhưng đều dành riêng cho một người yêu, một mối tình… “đẹp như mơ”, song cũng nhiều… đau khổ để hóa ra “Một mối tình si một mối thù”. Đó là bài thơ “Mười hai tháng sáu” viết năm 1941 và bài “Tố của Hoàng ơi” viết cũng vào ngày 12 tháng 6 năm 1972.

“Mười hai tháng sáu” dưới tiêu đề là lời ghi trang trọng: “Riêng gửi Kiều Thu”. Kiều Thu, theo người thân trong gia đình Vũ Hoàng Chương kể lại sau này, chính là nàng “Tố Uyển” hay còn gọi là “Tố Vân” mà ông đã viết tắt trong thơ là “TỐ”. Bài thơ gồm có 8 khổ, 5 khổ đầu là thơ 7 chữ, mỗi khổ có 4 câu và 3 khổ cuối là thơ lục bát, mỗi khổ cũng gồm 4 câu. Nội dung kể lại mối tình của tác giả với nàng Kiều Thu của một đêm “tháng sáu”, ngày “mười hai”, chắc là của năm 1941 (năm tác giả sáng tác bài thơ) ? khi ấy Vũ Hoàng Chương đã 26 tuổi. Có hơi muộn chăng so với thời bấy giờ? Thêm một giả thuyết ở 2 câu thơ trong khổ thơ thứ 2: “Mười năm thôi thế mộng tan tành/ Mười năm trăng cũ ai nguyền ước” và một lời kêu than thảng thốt: “Tố của Hoàng ơi! Tố của anh”. Có nghĩa là cuộc tình đã trải qua 10 năm! Và ông đã yêu Kiều Thu từ năm 16 tuổi?

Xem thêm:   Huyền thoại Phật Bà chắn bão?

Giả thiết này có lẽ phù hợp nhất, bởi đó là lứa tuổi… “dậy thì”, “trưởng thành” của người con trai thời bấy giờ, vì ông bà xưa đã có câu “Nữ thập tam, nam thập lục”. Cuộc tình ấy cũng lắm nỗi thăng trầm như: “Tố của Hoàng ơi! Hỡi nhớ thương” đến “Tố của Hoàng ơi! Tố của anh” rồi “Tố của Hoàng xưa! Tố của tôi” và cuối cùng là: “Tố của Hoàng! Nay Tố của ai?”. Để rồi người thơ “Mười năm theo máu hận trào rơi”, đê rồi ông mượn những cung điệu “Xừ xang xế xự xang hồ” mà gõ nhịp “Bàn tay nhịp gõ điên rồ khói lên”, chấm dứt cuộc tình qua “Nghiêng chân rốn bể mà nghe lửa bùng”, cho “Nhịp vươn sầu tỏa năm cung ngút ngàn” người thơ đã tự ru mình trong “lửa bùng” và cả trong “ngút ngàn” của… sầu chất ngất, làm rưng rưng lệ của biết bao người yêu nhau, đa sầu đa cảm…

Cái đêm “Mười hai tháng sáu” định mệnh ấy, đã âm thầm theo nhà thơ từ Bắc vào Nam, rồi… ngủ quên cho đến một đêm “mười hai tháng sáu” của 30 năm sau, tức đêm 12 tháng 6 năm Nhâm Tý, 1972. Cũng với hồn thơ của thuở ban đầu ấy, câu chữ lúc này nghe có vẽ day dứt, song dữ dội hơn qua bài “Tố của Hoàng ơi”, cũng thể thơ 7 chữ, nhưng chỉ có 7 khổ và không có xen lục bát. Mở đầu bài thơ, vẫn con số 12 đầy ám ảnh, khi tác giả giải thích số tháng trong một năm, số ngày trong một tháng, và khẳng định con số 12 vẫn… “sống như xưa” trong trái tim thơ và ký ức của ông qua hết 3 khổ thơ. Ở khổ thơ thứ 4 là niềm đau, nỗi nhớ: “Còn khóc trong tim này bất tuyệt/ Chừng như rối loạn cả đường tơ?/ Trăng-nhà-ai vẫn là trăng-khuyết/ Đứng sững từ đêm ấy đến giờ”… Mối tình chưa nguôi, kỷ niệm đầy trăn trở, khi Vũ Hoàng Chương đã thú nhận: “Ngày mai ngày mốt anh nằm xuống/ Ngọc đọng cơn sầu nửa kiếp thơ”. Một khúc tình si, mê loạn, đã lấy nước mắt và sự thương cảm của nhiều độc giả thời bấy giờ. Vũ Hoàng Chương đã phóng bút trãi hết tâm sự của mình, khi bên cạnh ông vẫn còn người vợ đầu ấp tay gối: Nữ sĩ Đinh Thị Thục Oanh, và cũng là chị ruột của nhà thơ Đinh Hùng! Và bởi cuộc tình đầu 10 năm ấy, từ khi “Tố của Hoàng” đã trở thành “Tố của ai”, thì tình đã dần: “Một mối tình si một mối thù” và là “biển lệ” theo suốt một đời nhà thơ?…

Xem thêm:   Tượng đài "The Trail of The Fallen"

Bây giờ tất cả thì cũng “Trả cho cát bụi nhé Kiều Thu!”. Ông cũng đã đi xa cõi trần, cõi thơ đã 50 năm, nhưng tên tuổi ông và thơ ông vẫn còn hiện diện trong lòng người hâm mộ, bên cạnh thông tin được Ủy ban giải Nobel tiết lộ vào tháng 2 năm 2023, danh sách được đề cử giải Nobel Văn chương vào năm 1972 (danh sách được giấu kín theo qui định và được công bố sau 50 năm) của Viện Hàn lâm Thụy Điển đề cử cho giải Văn học. Người yêu thơ Việt Nam càng thêm tự hào về ông, và ông xứng đáng với danh hiệu “Ông Hoàng làm thơ”, đồng thời là “Thi bá” của nền thơ ca nước nhà…

THV