Ai ra đi mà quên trời xưa được sao…

Một trong những hình ảnh của trời xưa ấy là nhà bưu điện thành phố.

SỔ TAY Dã Quỳ hôm nay xin ghi lại trang viết của Nguyễn Đông A trên Thế Kỷ Mới về bưu điện Sài Gòn để chúng ta cùng sống lại với hình bóng và kỷ niệm xưa.

Nguyễn Đông A mở đầu:

Đứng trước mặt tiền vàng nhạt điểm xanh lá, tôi cứ ngó mãi cái đồng hồ lớn ở chính giữa, nó đã gõ nhịp hơn trăm năm rưỡi nay, chứng kiến bao cuộc bể dâu của thành phố mà kim vẫn chạy đều, chẳng hề sai một khắc. Phía trên vành đồng hồ, người ta khắc tên và gương mặt những bậc danh nhân của ngành điện, ngành điện báo: Benjamin Franklin, Volta, Faraday, Ampère… như một lời nhắc rằng cái vật vô tri này ra đời từ trí tuệ của biết bao con người.

Bước chân vào bên trong, tôi có cảm giác mình vừa lạc sang một nhà ga châu Âu thế kỷ trước hơn là một bưu điện xứ Á Đông. Mái vòm cao vút, đỡ bởi bốn trụ sắt lớn tỏa ra bốn phía, từng đường nét chạm khắc nơi tiếp nối trụ và kèo đều tinh xảo, cầu kỳ đến độ khiến người ta phải ngước nhìn. Hai tấm bản đồ cổ vẫn treo hai bên cổng như từ thuở nào, một tấm vẽ đường dây điện báo miền Nam Việt Nam và Campuchia năm 1892, tấm kia vẽ Sài Gòn cùng vùng phụ cận cùng năm ấy. Không đơn thuần là vật trang trí, chúng như hai nhân chứng thầm lặng, kể lại cho ai muốn nghe câu chuyện của một thời đã xa.

Xem thêm:   Suy Đi Ngẫm Lại (08/06/2026)

Quầy nhận thư vẫn hoạt động, khách nước ngoài vẫn ghé đổi tiền, mua tem, mua vài món lưu niệm mang hồn Việt. Năm 2014 tòa nhà được sơn sửa lớn, lần đầu tiên kể từ sau 1975 nhưng cái cốt cách cổ kính thì vẫn y nguyên, giống như thời gian có chảy qua cũng chẳng làm phai được vẻ tráng lệ đã ăn sâu vào từng viên gạch.

Chiếc đồng hồ lớn, ở dưới có đề khoảng thời gian xây dựng. Xung quanh là các phù điêu đắp nổi màu trắng tinh xảo, ở giữa là thần đưa tin Hermes trong thần thoại Hy Lạp.

Thời gian trước 75, bước chân vào tòa nhà bưu điện thành phố là ta bắt gặp một hình bóng quen thuộc. Đây chúng ta nghe Nguyễn Đông A kể:

Một điều lạ mà tôi còn nhớ từ gần bốn chục năm trước, ở bưu điện này, và cả ở bưu điện Quận Năm ngày xưa, có cái nghề viết thư mướn, một nét văn hóa riêng, chẳng nơi nào có. Người gắn bó lâu nhất, cũng là người cuối cùng còn sót lại, là ông Dương Văn Ngộ.

Ông vào nghề bưu tá từ năm mười sáu tuổi, ở bưu điện Thị Nghè, rồi mười tám tuổi thi đậu chân thư ký tại Bưu điện Sài Gòn. Tiếng Pháp ông học từ thuở tiểu học, đến năm ba mươi sáu tuổi lại được cử đi học thêm tiếng Anh ở trường Việt – Mỹ. Năm 1990, về hưu mà người còn khỏe mạnh, ông xin được ngồi lại ngay sảnh bưu điện, viết và dịch thư cho ai cần. Công việc ấy ông làm ròng rã đến tận cuối đời, chưa từng nghỉ một ngày, kể cả những năm chiến tranh khốc liệt nhất.

Trên mỗi phiến đá ghi tên một nhà khoa học đã có những đóng góp to lớn cho nền văn minh nhân loại trong lĩnh vực điện và điện tín.

Tôi hình dung cảnh cụ mỗi sáng đạp xe tới, đậu vào bóng mát hàng cây, cười vồn vã chào những người bán bưu thiệp rong, rồi lôi từ trong cặp ra hai cuốn từ điển Anh – Pháp đã sờn gáy, cài tấm băng đỏ lên tay áo, dựng tấm biển nhỏ: “Nơi chỉ dẫn và viết giúp”. Khách của ông đủ hạng người. Anh tài xế miền sông nước nhờ viết thư đòi tiền bảo hiểm y tế cho ông chủ, cô gái trẻ đưa điện thoại Nokia nhờ dịch mấy dòng tin nhắn tiếng Pháp lãng mạn của người tình phương xa. Ông dịch ngay không cần nghĩ ngợi, rồi lặng lẽ nhìn cô gái mỉm cười thẹn thùng.

Xem thêm:   Nhà nước quản lý và thương mại hóa Phật Bà (kỳ 4)

Khách hàng nữ hay gọi ông là “người viết thư tình”, người ta còn ví ông như ông mai bà mối, “có thể là hai hay ba đám cưới gì đó”, ông từng nói vậy, giọng nhẹ tênh như kể chuyện thiên hạ chứ không phải chuyện mình làm nên. Suốt mấy chục năm, ông nghe biết bao câu chuyện, buồn có, vui có, cả những chuyện tìm con thất lạc, tìm lại người thân sau chiến tranh.

Ông Dương Văn Ngộ.

Ông không thích email, không thích điện thoại. “Từ ngữ từ máy móc không có linh hồn”, ông nói vậy, và tôi nghĩ, có lẽ chính vì tin vào cái linh hồn ấy mà nét chữ tay của cụ, dù mộc mạc, vẫn chở được biết bao tâm sự của người đời đi xa đến vậy. Ông tự đặt cho mình những nguyên tắc chẳng ai bắt buộc. Chính xác, chuẩn mực, không thêm không bớt, không viết thư than nghèo kể khổ để trục lợi, không nhận công nhiều hơn mình bỏ ra. Mỗi lá thư chỉ lấy mười, mười lăm ngàn đồng, tùy lòng hảo tâm người ta. Ông nói, nghề này tiếng Anh gọi là “public writer”, người viết thư cho công chúng, cái tên dịch sát nghĩa nhất mà ông từng nghe.

Người bạn nghề của ông, ông Huỳnh Liếng, đã mất trước đó không lâu, và ông, khi ấy đã ngoài chín mươi, trở thành người viết thư thuê cuối cùng của cả Sài Gòn. Mong ước duy nhất của ông, giản dị đến nao lòng, mong thế giới này có thêm nhiều người như ông, như ông Liếng. Những người chịu ngồi xuống, chậm rãi, lắng nghe và viết hộ người khác những điều họ không tự nói ra được.

Xem thêm:   Những đôi giày để lại

Rồi ông cũng đã về với đất, hưởng thọ chín mươi tư tuổi, ra đi nhẹ nhàng thanh thản tại nhà riêng. Ngồi ngẫm lại, tôi thấy tiếc. Tiếc không phải vì bưu điện thiếu đi một cái bàn gỗ mộc, mà tiếc vì thành phố này mất đi một nhân chứng biết lắng nghe, biết giữ im lặng đúng lúc, biết trân trọng từng con chữ như trân trọng một phận người. Trong cái thời mà ai cũng gõ bàn phím, gửi tin nhắn trong tích tắc, lại có một ông già ngồi giữa sảnh bưu điện, cặm cụi viết tay từng dòng. Đó không chỉ là một nghề, mà là một cách sống, một cách giữ cho lòng người khỏi trôi quá nhanh theo thời đại.

Người viết thư thuê Dương Văn Ngộ nói chuyện với Chủ tịch EU Herman Van Rompuy tại Bưu điện

(theo NĐA)

Dã Quỳ ghi lại