“Hãy cho tôi một điểm tựa, tôi sẽ nhấc bổng trái đất lên” là câu nói nổi tiếng của Archimedes (287-212 trước Công Nguyên). Ổng là một nhà toán học, nhà vật lý, nhà phát minh huyền thoại người Hy Lạp. Hình của Archimedes được in ở mặt trước của Huy chương Fields, giải thưởng danh giá được coi là “Nobel Toán học” (vì giải Nobel không bao gồm lĩnh vực toán học), được Hiệp hội Toán học quốc tế (IMU: International Mathematical Union) trao 4 năm một lần cho những nhà nghiên cứu nổi bật.
Ơ-rê-ca (Eureka, nghĩa tiếng Việt là “tìm ra rồi”) là một giai thoại nổi tiếng về cách ra đời của “lực đẩy Archimedes” và của mục.. này.
Thay thế một bộ phận cơ thể hỏng bằng bộ phận khỏe của người khác từng là điều không tưởng. Năm 1902, bác sĩ Pháp Alexis Carrel công bố kỹ thuật khâu nối mạch máu, học hỏi từ nghề thêu và dùng chỉ rất mảnh được xử lý bằng Vaseline, đồng thời bảo vệ mạch máu bằng Vaseline và dung dịch Ringer. Những mũi khâu ấy mở đường cho phẫu thuật mạch máu và cấy ghép. Ông nhận giải Nobel Y sinh năm 1912.
Năm 1933, tại Ukraine, bác sĩ Yurii Voronoy thực hiện ca ghép thận người đầu tiên trên thế giới từ người chết sang một phụ nữ bị ngộ độc thủy ngân. Dù bệnh nhân qua đời sau 48 giờ do thiếu máu cục bộ và bất tương hợp nhóm máu, đây vẫn là bước thử nghiệm dũng cảm và đáng trân trọng.
Trong Thế chiến II, bác sĩ người Mỹ Joseph Murray quan sát hiện tượng thải mô da ở bệnh nhân bỏng tại Bệnh viện Peter Bent Brigham (Boston). Ngày 23-12-1954, ông cùng ê-kíp (gồm J. Hartwell Harrison) ghép thận từ Ronald Herrick sang anh em song sinh cùng trứng Richard, đang suy thận giai đoạn cuối. Nhờ gene tương đồng, Richard sống thêm khoảng tám năm, kết hôn và có hai con; Ronald sống khỏe mạnh hơn nửa thế kỷ. Công trình này giúp Murray đạt giải Nobel Y sinh năm 1990.

nguồn healthaffairs.org
Gỡ nút thắt thải ghép là công lớn của Peter Medawar (Nobel 1960 cùng Frank Macfarlane Burnet) khi chứng minh thải ghép là phản ứng miễn dịch, mở đường cho thuốc ức chế như azathioprine và cyclosporine thập niên 1980, nâng tỷ lệ sống sót của các ca ghép tạng giữa những người xa lạ.
Từ nền móng ấy, y học liên tục lập nên những cột mốc lẫy lừng: ca ghép phổi đầu tiên năm 1963 của bác sĩ James Hardy (bệnh nhân sống 18 ngày); các ca ghép gan tiến bộ dần của Thomas Starzl; ghép tim người đầu tiên do Christiaan Barnard thực hiện tại Nam Phi năm 1967; ghép bàn tay đầu tiên thành công tại Lyon (1998) và ghép toàn bộ khuôn mặt tại Barcelona (2010)…
Ngày nay, cấy ghép tạng đã trở thành phương pháp điều trị được đề nghị cho bệnh nhân suy nội tạng giai đoạn cuối. Riêng tại Mỹ, năm 2025, có 49,064 ca cấy ghép tạng thành công. Tuy nhiên, bên cạnh các thành tựu y khoa thì bài toán nan giải không chỉ là việc bệnh nhân phải dùng thuốc chống thải ghép suốt đời, sự khan hiếm nguồn tạng hiến, và những khó khăn khi ngăn chặn kẻ xấu lợi dụng kẽ hở luật pháp để thương mại hóa nội tạng con người…
Để những giải bài toán này, nhân loại đang hướng tới những chân trời khoa học mới, ví dụ như dùng thận heo chỉnh sửa gene làm cầu nối tạm thời trong lúc bệnh nhân chờ ghép tạng, hoặc đang đưa ra các loại vật liệu thay thế cho nội tạng con người. Ông Tim Andrews (66 tuổi, sống tại New Hampshire) sống không cần lọc máu suốt 271 ngày nhờ thận heo được chỉnh sửa gene. Trước khi thận suy, ông trở lại lọc máu rồi nhận thận người. Tại Úc, tim nhân tạo BiVACOR bằng titan đã giúp một bệnh nhân sống 105 ngày trước khi nhận tim hiến năm 2025…








