Gia đình tôi có tám anh chị em, anh Hai tôi là con trai lớn, sau bà chị Cả. Anh Hai đã sớm ý thức việc học hành để làm gương cho lũ em nhỏ. Anh học giỏi, vì yêu thích Y Khoa, anh vào học Khoa Học Sài Gòn. Nhưng vì Mùa Hè Ðỏ Lửa tổng động viên năm 1972 anh phải từ bỏ giấc mộng Bác Sĩ, vào trường Sư Phạm. Miền Nam bị cưỡng chiếm, Má tôi mất sau đó một tháng, ba đi tù “cải tạo” về chưa có việc làm, mọi việc trong nhà đều đặt nặng trên vai bà chị Cả và anh Hai vì lũ chúng tôi còn trong lứa tuổi ăn chưa no lo chưa tới.

Lúc đó anh đang dạy học ngoài Cần Thơ, một vài tuần anh bắt xe về thăm nhà, dặn dò mọi điều, rồi trở về Cần Thơ. Anh cương quyết không cho gia đình nghe lời dụ dỗ và ép uổng của chính quyền đi kinh tế mới. Và anh cũng nhen nhóm trong nhà tôi hai chữ “vượt biên”, vì như theo lời anh nói, “không thể sống chung với cộng sản”.

Lần đó anh về thăm nhà như thường lệ, rồi báo tin buồn, anh bị “trúng tuyển nghĩa vụ quân sự” theo chỉ tiêu của nhà trường gửi quân qua biên giới Campuchia. Mọi người rầu rĩ, nhưng anh Hai mỉm cười:

– Ðây chính là cơ hội để con tìm đường qua biên giới, vào Thailand tỵ nạn, xin mọi người cầu nguyện cho con.

Rồi anh lấy trong túi xách ra tấm bản đồ biên giới Campuchia-Thailand mua ngoài chợ trời. Tấm bản đồ bằng Tiếng Anh, nhưng với vốn liếng mấy năm học ở Hội Việt Mỹ trước năm 1975, và giáo viên dạy Anh Văn tại trường Phan Thanh Giản Cần Thơ, tờ bản đồ anh xem không khó gì. Anh vẽ chi chít, ghi chú cẩn thận trên đó, và chỉ cho mọi người xem dự tính của anh, đi qua Siêm Riệp, theo đường mòn biên giới vào Thái. Nghe anh nói ngon ơ, nhưng ai cũng biết là bao hiểm nguy chờ đợi. Bọn Khmer Ðỏ rình rập, đường rừng ngập các bãi mìn, chưa kể là lính đào ngũ còn bị quân đội Việt Nam tìm bắt ráo riết, chạy đâu cho thoát.

Cả nhà ngày đêm lo lắng, bỗng ba tuần sau anh về nhà, báo tin vui, vì nhà trường cần những giáo viên giỏi, nên đã xin đặc biệt cho anh và vài giáo viên được tạm hoãn thi hành “nghĩa vụ quân sự”.

Sau lần đó, anh vẫn kiên quyết tìm đường vượt biển, nên mùa hè năm tới anh ra khơi, nhưng cả nhóm tàu đã bị bắt khi đang chờ tàu lớn, bị giam lại Long Ðất 9 tháng trời. Khi ra tù, anh mất việc, mất hộ khẩu nên tìm về Sài Gòn, ở nhà chờ cơ hội tiếp theo.

Trong thời gian này, anh tìm ngoài chợ trời mua sách của Hải Quân VNCH, la bàn đi biển để học làm hoa tiêu. Anh vào thư viện tìm thêm tài liệu, lục lọi các tiệm sách cũ…và nhờ bạn bè giới thiệu với một chủ tàu, anh được mời đi vượt biên miễn phí với tư cách là hoa tiêu. Họ cho anh dẫn theo một người, mà trong gia đình tôi lúc đó, tôi là “ứng cử viên” sáng giá nhất vì tuổi mới lớn, có cơ hội học tiếp khi qua Mỹ.

Anh đã trằn trọc mấy đêm liền, không biết có nên mang tôi theo hay không. Vì lúc đó thời tiết ảnh hưởng bão nên mưa gió, ngoài biển đâu phải lúc nào cũng êm ả. Mà chuyện đi vượt biên đầy may rủi, “con nuôi má” thì ít, mà “con nuôi cá” và “má nuôi con” cũng chẳng hiếm, chưa kể nạn cướp biển đang hoành hành. Xóm tôi cũng đã có mấy gia đình cho con cái đi mà chẳng đến nơi, cũng không về nhà.

Xem thêm:   Buồn vui những ngày...

Ðêm cuối cùng trước khi ra biển, anh thao thức đến gần sáng. Không ngủ được, anh ra ngoài phòng khách tìm nước uống. Lúc đi qua chiếc giường thấy tôi đang ngủ say, bên cạnh là chiếc bàn học sách vở xếp gọn gàng với chiếc cặp táp chuẩn bị đến trường ngày mai. Anh liền quyết định dứt khoát, sẽ ra đi một mình, để tôi được tiếp tục những ngày hồn nhiên của tuổi học trò. Vì anh là “mạng cùi”, không còn gì để mất, còn tôi là “mạng vàng”, mới lớn ngây thơ, anh không dám mang ra biển cả gian nguy trăm bề.

Trời không phụ lòng người, chuyến đi may mắn thành công, cập bến Malaysia dù anh mới lần đầu làm hoa tiêu. Thuyền vừa vào bờ đất Mã, mọi người sung sướng lạy trời đất cảm tạ, còn anh thẫn thờ xót xa khi để tôi ở lại nhà. Suốt thời gian ở trại, mỗi lần ra cầu Jetty đón người mới đến, hay khi đứng trên lớp dạy Tiếng Anh cho đồng bào tỵ nạn, anh vẫn chưa nguôi nỗi day dứt đó. Vì vậy, anh quyết tâm bằng mọi giá, sẽ bảo lãnh toàn bộ gia đình qua Mỹ trong thời gian sớm nhất.

Từ trại tỵ nạn, anh đến định cư tại thành phố Wichita, Kansas là bắt đầu tìm hiểu chuyện học đại học. Giấc mơ Y Khoa chợt sống lại, nhưng ở độ tuổi gần ba mươi, chương trình học Y vừa dài vừa tốn kém, vì mục tiêu lớn hơn là cứu gia đình còn kẹt lại Việt Nam, một lần nữa, anh phải từ bỏ ước mơ của mình, vào học Engineer. Anh vừa học vừa đi làm cuối tuần để một vài tháng “tiếp tế” cho gia đình một thùng quà giá trị. Hàng xóm chung quanh hay nói với tôi:

– Nhà người ta có con gái qua Mỹ gửi đồ về là hãnh diện lắm, vì con gái biết thu vén tối đa cho gia đình. Còn nhà cô, chỉ cần một ông anh thôi cũng bằng hai, ba cô con gái nhà người ta cộng lại.

Nhờ thông minh, siêng năng cần cù, anh tốt nghiệp Electrical Engineer với điểm xuất sắc (Cum Laude), được ghi tên vào cuốn Who’s Who Among Students in American Universities. Vừa ra trường, anh đầu quân cho hãng Boeing, sau làm cho Kelly Air Force Base ở San Antonio, Texas. Khi Base này đóng cửa anh chuyển qua Tinker Air Force Base ở Oklahoma, rồi lại qua Defense Contract Management Agency (DCMA) under U.S. Department of Defense tại Dallas, Texas cho đến ngày nay.

Ngay khi vừa vào đại học, anh đã bắt tay vào việc bảo lãnh gia đình, trong khi nhiều người bạn học khác chỉ lo học hoặc đi làm, chưa thấy được tầm quan trọng của việc bảo lãnh thân nhân. Anh tự tìm hiểu qua phone hoặc trên giấy tờ (thuở ấy chưa có internet để lên mạng dễ dàng như ngày nay). Không cần đến văn phòng luật sư, anh sử dụng khả năng English rất kiên nhẫn, tự tin, theo dõi hồ sơ bão lãnh theo đúng trình tự.

Cuối năm 1989, vì nôn nóng không thể đợi giấy tờ bảo lãnh, tôi vượt biển đến trại tỵ nạn Panatnikhom, Thailand. Nghe tin tôi đến trại, anh mừng rỡ vô cùng. Mỗi tháng anh gửi tiền chu cấp đều đặn. Khi những người xung quanh tôi, cũng có thân nhân nước ngoài, người thì nhận tiền nhỏ giọt, người thì tháng có tháng không, còn tôi thì cứ giữa tháng là có thư, vì mỗi ngày mồng một của tháng, anh hoặc vợ anh (lúc ấy anh mới lập gia đình) đi gửi tiền, suốt bốn năm như thế, chưa trễ một lần nào.

Ðặc biệt, lúc đó, anh tôi còn “nổi tiếng” trong trại, ít nhất là khu tôi ở, vì sự chăm lo “có một không hai” dành cho cô em gái. Sợ tôi bị rớt thanh lọc, anh bảo tôi cứ bình tĩnh để anh tìm cách, không để tôi phải quay về Việt Nam. Anh đã đăng mục “Tìm Bạn Bốn Phương” của Mỹ giùm tôi, với ước mong sẽ tìm được ai đó, tốt đẹp, và biết đâu sẽ tiến xa hơn, đưa tôi qua khỏi cuộc thanh lọc, nhưng rồi giải pháp đó cũng chẳng có kết quả gì.

Xem thêm:   Suy Đi Ngẫm Lại (08/04/2022)

Còn nữa, sợ viết trong thư không thể nói hết về nước Mỹ để tôi mở mang kiến thức, anh còn thâu băng cassette, kể chuyện nước Mỹ cho tôi nghe. Kể về thành phố Wichita thời sinh viên của anh, về thành phố San Antonio nơi gia đình anh đang sinh sống, về các trường đại học, về cuộc sống người Việt và người Mỹ, về mọi thứ trên đất Mỹ. Ðêm đêm tôi mở cuộn băng “Nước Mỹ” cho cả lô nhà cùng nghe (bằng cái máy cassette nhỏ chạy bằng “pin”). Mọi người nằm nghe say mê, rồi đi vào giấc mộng mơ màng với nước Mỹ bên kia bờ đại dương. Một hôm, có người tìm đến căn nhà tỵ nạn tôi, hỏi lớn:

– Cô Loan ơi, cho tôi mượn cái băng cassette.

– Băng ca sĩ Ngọc Lan hả anh? (Vì chị dâu tôi cũng hay gửi băng nhạc cho tôi nghe, bà con xung quanh cũng hay qua mượn)

– Khồng…ồng …!! Tui muốn cái băng “Nước Mỹ” mà anh cô kể chuyện hấp dẫn đó.

Tôi đâu ngờ sự “nổi tiếng” của anh tôi đã lan truyền qua cả những lô khác. Cho người đó mượn băng “Nước Mỹ” hơn hai tuần, tôi đến tìm, họ xin lỗi rồi khai thiệt là đã chuyền tay cho người này, người nọ cùng nghe. Cuối cùng, tôi tìm được nhà chú kia, người thứ bao nhiêu sau khi chuyền tay cũng chẳng nhớ. Chú ấy phân trần:

– Chẳng giấu gì cô, tui cũng có thằng con bên Mỹ. Tiền viện trợ nó gửi còn thưa thớt, tháng nhớ tháng quên, chớ đừng nói gì đến chuyện kể về nước Mỹ cho tui nghe.

– Dạ, vậy bây giờ chú nghe băng “Nước Mỹ” xong chưa, cho con xin về cho người khác mượn.

– Cô để thủng thẳng tui nói hết đã chứ. Tuần sau cô quay lại lấy được không, vì tôi đem cuốn băng đó ra tiệm nhờ sang ra hai ba cuốn, mà họ làm chưa xong!

– Úi trời, chú sang ra hai ba cuốn làm gì?

– Thì để cho bà con chung trại cùng nghe, và một cuộn tôi sẽ gửi về Việt Nam cho vợ con tui biết về nước Mỹ, cô thông cảm nha!

Nhờ may mắn, có thêm sự “cố vấn” của anh, tôi đã vượt qua cửa ải thanh lọc, nhưng “phúc bất trùng lai”, tôi bị phái đoàn Mỹ từ chối tại cuộc phỏng vấn, và tôi xin định cư Canada. Qua Canada chưa kịp nóng chỗ, anh đã lên ngay chương trình “giải cứu” tôi qua Mỹ, nhưng “người tính không bằng trời tính”, tôi có nợ có duyên với xứ lạnh tình nồng cho đến nay.

Trong thời gian bốn năm tôi bị kẹt bên trại, gia đình tôi bên Việt Nam lần lượt đi qua Mỹ theo diện ODP bảo lãnh của anh tôi. Vậy là anh thoả mãn ước mong, không còn một thân nhân ruột thịt nào còn lại với chế độ Cộng Sản. Mấy người bạn cũ thời đại học Wichita của anh, có người lận đận mãi mới đưa được người nhà qua đây, thậm chí có người vẫn còn cha mẹ bên quê nhà, chỉ vì hồi đó chủ quan và…làm biếng. Họ nói với anh:

– Tụi tôi phục ông sát đất! Không tốn một đồng xu nào cho luật sư mà đưa được cả gia đình qua đây đầy đủ. Hồi đó tụi tôi không chịu nghe lời khuyên của ông, giờ hối hận thì đã muộn!!

Là người đi trước, anh hướng dẫn, chỉ bảo kinh nghiệm cho các anh chị em trong nhà những bước đầu hội nhập trên xứ Mỹ. Tới đám con, cháu, thế hệ thứ hai, anh luôn khuyến khích hướng tới các ngành đại học sáng giá, dễ kiếm việc, nhất là Y Khoa, mà anh đã phải từ bỏ.

Xem thêm:   Những mẩu chuyện ngày cũ

Anh là cuốn “Từ Ðiển Bách Khoa” của đại gia đình với trí nhớ dẻo dai, hiểu biết và chính xác. Mỗi lần qua Mỹ, tôi say sưa ngồi nghe anh nói chuyện hàng giờ mà vẫn chưa đủ. Tên quốc tịch của anh là David, và tôi hay gọi một cách thân thương là “anh Dave thông thái của chúng ta”. Riêng kiến thức về nước Mỹ thì anh có thể nói không cạn đề tài. Ngoài lãnh vực chuyên môn nghề nghiệp, còn có chuyện chính trị, xã hội, y tế …vì anh là một công dân gương mẫu, yêu nước Mỹ và tự hào về nước Mỹ. Các gia đình anh chị em chúng tôi (kể cả tôi bên Canada) đều treo tấm bản đồ nước Mỹ trong nhà, là món quà đầu tiên anh tặng cho mỗi gia đình.

Cứ ngỡ anh an phận vì “giấc mơ Mỹ Quốc” của gia đình đã trọn vẹn, nhưng anh vẫn quan tâm giúp đỡ những người quen khác còn ở Việt Nam. Hàng năm vào dịp Tết, anh đều đặn gửi tiền cho vài người hàng xóm nghèo khó. Chị Nga Sún bán khoai luộc đầu xóm mỗi lần nhận tiền đều cười vui vẻ, khoe:

– Ôi, hồi đó mỗi lần ảnh từ Cần Thơ về xóm là chiều chiều đi ngang qua nhà tui. Thằng con tui thấy ảnh về là mang bài tập qua hỏi thầy giáo liền á!

Bác Sương kế bên nhà tôi từng tâm sự:

– Nói thiệt, hồi đó tui chỉ mong cậu ấy ngắm nghía con gái tui là tui… cho không, rồi bắt về làm rể. Ai ngờ, cậu ấy ôm mộng vượt biên.

Riêng tôi còn nhớ chị Quỳnh Giao, xinh đẹp thuỳ mị nhất nhì trong xóm, có lần đến thăm anh khi anh mới về thăm nhà. Hai người ngồi ngay phòng khách nói chuyện tới khuya. Chiếc giường ngủ của tôi kế bên đó, tôi nghe được những lời dịu dàng chị đã trách móc anh:

– Lần nào anh về cũng không có thời giờ qua nhà thăm em sao? Em chờ hoài chẳng thấy nên đành phải… xuống nước qua đây tìm anh đó, anh hiểu không?

Hình như anh có cười xin lỗi, và chắc sau này chị ấy đã hiểu, anh phải gạt bỏ chuyện tình yêu để ưu tiên cho chuyện vượt biên, tìm tương lai tươi sáng và lo cho gia đình.

Với những học trò trường Phan Thanh Giản xưa và những họ hàng xa ngoài miền Bắc, anh làm theo phương châm “giúp họ câu cá tốt hơn là cho họ cá”, vì quà cáp cho họ anh cũng vẫn làm, nhưng biết bao giờ mới đủ? Ai đang độ tuổi kết hôn, hoặc đã dang dở hôn nhân, nếu có ước muốn, anh đều giúp bước đầu bằng cách đăng mục Tìm Bạn Bốn Phương của Mỹ. Sau đó tuỳ theo duyên phận của từng người, đã có vài mối lương duyên Việt-Mỹ, đang có happy ending trên đất Cờ Hoa.

Mới đây trong lần Family Reunion bên Texas, tôi hỏi đùa anh:

– Giờ anh có còn muốn đưa ai qua Mỹ nữa không nà?

Anh cười lớn:

– Nếu được, anh ước gì mang toàn dân Việt Nam qua đây, cho họ nếm mùi “tư bản rẫy chết” của Mỹ, nhưng coi bộ khó quá. Thôi thì chỉ cầu mong cho quê hương mau dẹp tan cái đảng Cộng Sản ăn hại, cho người dân được nhờ.

KL