Năm 1954, di cư từ Bắc vào, khởi đầu từ khu lều bạt Thăng Long rồi sang cư xá đại học Minh Mạng, một số anh em văn nghệ trong đó có Thanh Tâm Tuyền, Trần Thanh Hiệp, Nguyễn Sĩ Tế, Doãn Quốc Sỹ … cùng nhau làm tờ Lửa Việt rồi sang nhật báo Hòa Bình phụ trách Trang Văn Nghệ. Chính trên trang báo này, Thanh Tâm Tuyền gặp Mai Thảo rồi cùng nhau đi qua nhiều đoạn đường. Năm 1998 Mai Thảo qua đời, Thanh Tâm Tuyền đã viết bài tưởng niệm Trong Đất Trời Nhau mà sau đây là trích đoạn. NGUYỄN & BẠN HỮU

Trong đất trời nhau mình vẫn gần

Mai Thảo

Mai Thảo gửi tới chúng tôi Ðêm Giã Từ Hànội.

Tôi nhận được một bao thư dầy cộm, không địa chỉ người gửi, trong đựng xấp bản thảo đánh máy. Bút hiệu Mai Thảo hoàn toàn xa lạ với tôi.

Liếc nhìn dòng chữ đầu tiên của bài gửi, tôi giật mình kinh ngạc:

“Phượng nhìn xuống vực thẳm: Hànội ở dưới ấy.”

Câu trích đề của truyện đột ngột khác thường. Nó không trích ra từ một tác phẩm khác đã có. Nó như tự trên trời rớt xuống, hay nói như Mai Thảo là câu “bắt được của trời”. Cái chiều sâu của nó làm chóng mặt.

Tưởng nên nhắc nhớ rằng ẩn dụ “vực thẳm”, cứ theo chỗ tôi biết, cho đến lúc bấy giờ chưa thấy được dùng trong văn chương Việt Nam. Phải đợi vài năm sau, khi Phạm Công Thiện xuất hiện với ảnh hưởng của Nietzsche, văn từ “hố thẳm” mới tràn lan và trở thành sáo ngữ.

Ðọc hết truyện thì rõ câu trích đề là một câu ở trong truyện. Phượng là tên nhân vật.

Ðây là một truyện không cốt truyện.

Sự hấp dẫn bắt đọc là ở lời, giọng kể, ở ma lực của tiếng nói bất lắng nghe – theo bước di chuyển của nhân vật giữa thành phố bỏ ngỏ trong đêm, sự vật ẩn hiện nổi chìm trong giấc kín bưng triền miên của chúng -, ở sự dồn đẩy khôn nguôi của chữ nghĩa tưởng chừng không sao dứt tạo thành những vận tiết mê mải tới chốn nhòa tắt mọi tiếng. Gọi Ðêm Giã Từ Hànội là truyện hay tùy bút đều được. Cứ theo ký ức cùng cảm thức của riêng tôi, trong và sau khi đọc, thì đó là một bài thơ. Thơ là thứ tiếng nói tàng ẩn trong quên lãng bất chợt vẳng dội, đòi được nghe lại (nghĩa là đọc lại, lặp lại). Người ta nghĩ đến một truyện ngắn, một bài tùy bút, một quyển tiểu thuyết đã đọc, nhưng người ta nhớ đồng thời nghe và gặp lại một câu thơ, một bài thơ.

Xem thêm:   Giới thiệu Thư Quán Bản Thảo số 100

Ðêm Giã Từ Hà Nội là một bài thơ thỉnh thoảng vẫn vẳng dội trong tôi mà tôi không thể nhớ toàn vẹn – tỷ như lúc này đang viết đây tôi không cách nào tìm đọc bài thơ ấy trừ cách tưởng tượng dựa vào ý ức và cảm thức còn sót đọng, trừ câu trích đề.

o O o

Nhớ trong buổi họp kiểm bài vở trước khi chuyển xuống nhà in tôi đã không thể ngăn nổi mình yêu cầu các anh Hiệp, Sỹ, Tế nghe tôi đọc Ðêm Giã Từ Hànội đăng trọn trong một kỳ báo, không cần làm giới thiệu. Và tôi đọc say sưa, hùng hồn liên hồi. Và các anh chịu khó ngồi nghe trên căn gác lửng tối chật của tòa báo. Anh Tế kết thúc buổi họp nói đùa “Anh làm chúng tôi mất cái thú tự mình khám phá”.

Năm di cư thứ hai mươi [1974], khi viết bài Tử Ðịa, nghĩ đến những đứa con tư sinh của đất Bắc ở cả hai miền lúc ấy, tôi đã mở bài bằng câu trích đề của Anh, tuyên xưng nó là câu văn bất hủ. [Người ta có thể nghĩ tôi quá lời, sử dụng “ngoa ngôn”. Nabokov còn “ngoa” hơn nhiều khi ông bảo: “Cả sự nghiệp của triều đại Sa Hoàng Ðại Ðế sánh không bằng nửa vần thơ của Pushkin.”].

Khi từ Phú Thọ ra, ghé lại Hànội chờ tầu về Nam, lúc chiều tối đứng trên ga Hàng Cỏ, trông xuống phố Hàng Lọng, phố Trần Hưng Ðạo sâu hoắm bóng đêm rét lạnh của một ngày cuối năm, tôi thầm nhắc thành tiếng bên tai “… Nhìn xuống vực thẳm… dưới ấy..”, câu của anh vẳng ngân như là một câu thơ. [Câu văn là một câu gắn liền trong mạch văn, tách ra khỏi mạch không ít thì nhiều cũng bất toàn. Câu thơ tách ra khỏi mạch vẫn tự đầy đủ, tự lập trên cái nền thiếu vắng nó gợi nhắc].

Ðăng bài Anh, tôi viết lời nhắn mời anh đến chơi tòa soạn. Mai Thảo đến.

Anh đi chiếc xe đạp đầm sơn trắng, đầu còn đội mũ phớt kiểu Hà Thành Công Tử. Yên xe đạp được nâng lên cao hết cỡ vẫn chưa vừa với tầm chân của anh. Chúng tôi rủ nhau ra quán cà phê đầu hẻm gần đấy, ngồi trên ghế thấp trên lề đường Lê Lai trông sang bờ tường rào của nhà ga Sàigòn nói chuyện. Hồi ấy anh mới vào Nam, còn ở chung với gia đình anh Viên trong một căn phố đường Jacques Duclos, thuộc khu Tân Ðịnh (đường này song song với đường Trần Quang Khải, trong khoảng từ nhà hát bội đến lối vào Xóm Chùa. Tôi nói lớn: “Anh ở trúng vào con đường mang tên một tay tổ Cộng Sản Pháp”).

Xem thêm:   ĐÊM. thơ & nhạc

Chuyện giữa hai chúng tôi xoay quanh văn chương, thi ca. Anh đọc và nhớ khá nhiều thơ Việt Nam thời hiện đại kể cả loại thơ ít người đọc như thơ Nguyễn Xuân Sanh trong Xuân Thu Nhã Tập. Anh rất chịu thơ Chế Lan Viên. Nhân đề cập đến thơ ở Hànội rồi Sàigòn lúc ấy, tôi nhắc đến một bài thơ gần đây tình cờ đọc trong một trang Văn Nghệ của một tờ báo mới xuất bản: một bài thơ mới, lạ, chững chạc, dưới ký tên lạ hoặc chưa từng thấy: Nhị; một bài thơ lạnh, tôi rất thích chất lạnh của thơ, và cách biểu hiện cảm thức bằng những hình ảnh dở dang, trở đi trở lại dưới những ánh rọi khác nhau, đồng thời với cái tiết điệu biến hoá được nối kết lại bằng những câu trùng, tôi đọc những câu thích nhất, có hơi thơ gần siêu thực:

Lại thấy con đường như lặng

Những đỉnh cây xanh

Và những ngón tay trên phím dương cầm

Ðôi guốc mộc trong căn phòng trừu tượng.

Cúi đầu xuống cúi đầu xuống.

Anh lặng nghe tôi bình phẩm, đọc thơ, rồi nói: Nhị là tôi. Chúng tôi thân thiết nhau ngay từ buổi gặp gỡ ấy.

trong-dat-troi-nhau

                          Mai Thảo

Cúi Đầu

Cúi đầu xuống cúi đầu xuống

Mà đi vào chiều xanh đỉnh cây

Một đẹp lên khối hai đẹp lên hình

Người cúi đầu đi vào chiều mình

Thảm cỏ non cánh cổng thấp

Lớp đá đường rồi thảm cỏ non

Hướng chiều thăm thẳm phố hoang vu

Người tuổi ấy hát chiều sao ấy

Tiếng hát suối trong hàng mi liễu buồn

Mắt tròn im lặng.

Tôi chọn tình yêu làm biển trời

Cúi đầu xuống cúi đầu xuống

Mà thương trở lại nhớ nhung về

Hàng hiên xưa, trang sách mở, cánh tay ngọc

Chiếc dây chuyền và sợi len đỏ.

Mái tóc dài của người trong vườn

Cột điện đầu tường lá rụng

Rào rào mái đựng mùa thu

Phố đếm chân đi về mãi mãi

Ðiếu thuốc lá, chiếc khăn quàng, vành mũ lệch

Ðổ xuống bờ vai bóng tối núi rừng

Mưa phùn ngõ nhớ nghiêng lưng

Lối đi là lối dương cầm

Ðôi guốc mộc căn phòng trừu tượng

Tôi chọn tình yêu làm biển trời

Xem thêm:   Tưởng nhớ nhà văn Võ Hoàng

Cúi đầu xuống cúi đầu xuống

Mà dựng tình yêu thành thế giới

Cấy những chùm sao lên nền trời

Hát nghìn năm biển đầy vĩnh viễn

Lại thấy con đường im lặng

Những đỉnh cây xanh

Và những ngón tay trên phím dương cầm

Ðôi guốc mộc căn phòng trừu tượng

Cúi đầu xuống cúi đầu xuống

NHỊ

Trong nhiều năm anh viết văn, bằng lòng làm nhà văn, không làm thơ. Trên Sáng Tạo chỉ một lần anh đăng hai bài thơ ngắn – Nghe Ðất, Ý Thức – cũng ký tên Nhị. Cả ba bài thơ của thời trẻ này được giữ lại Trong tập Ta Thấy Hình Ta Những Miếu Ðền gồm những bài thơ anh làm sau ngày anh bắt buộc phải lìa bỏ Sàigòn. Chẳng rõ anh Khánh có tìm thấy những trang thảo để lại trên bàn viết của Anh bài thơ nào sót không? Câu thơ trích làm nhan cho bài viết này lấy từ một bài thơ anh gửi tôi khi tôi còn ở nhà sau chuyến đi Bắc.

Ở Người Việt rồi Sáng Tạo, anh viết truyện ngắn, tùy bút, lý luận… Những bài tùy bút như Phương Sao, Tiếng Còi Trên Sông Hồng đánh dấu một bước mới mẻ của câu văn Việt. Tuy nhiên, đối với tôi, anh lúc nào cũng là một thi sĩ cho dù anh không làm thơ.

Ðầu năm 78, ở Lao Kay lần đầu tiên nhận được thơ nhà, biết tin anh đi xa. (Vợ tôi viết: “Bố nuôi của Thái về quê ngoại sống, không ở Sàigòn nữa”) tôi như người chợt tỉnh sau giấc hôn thuỵ. Bài Nhớ Thi Sĩ (*) viết vào lúc ấy đề tặng một thi sĩ đã mất và gửi Anh, một thi sĩ lưu lạc khi chúng tôi nghĩ chắc không còn ngày gặp lại. Trong những lời thơ vẳng trong tôi bấy giờ có cả lời thơ của anh.

o O o

Như mọi thi sĩ của một thời điêu đứng, anh chạy trốn thơ cho đến lúc không thể trốn được nữa, bởi anh đã rõ:

Cõi không là thơ, Không còn gì hết là Thơ. Nơi không còn gì nữa hết là Thơ. Một xóa bỏ tận cùng. Từ sự xoá bỏ chính nó. Tôi xoá bỏ xong tôi. Không còn gì nữa hết. Tôi thơ.

Và như thế…?

Et le poète reconquiert son invisibilité.

Jean Cocteau

Good Night, Sweet Prince!

Hamlet – Shakespeare.

Chúc Người An Giấc, Công Tử của Lòng Ta.

trong-dat-troi-nhau1

TTT – 2-98

Tạp Chí Thơ, số Mùa Xuân 1998