‘9 KHUÔN MẶT. 9 PHONG KHÍ VĂN CHƯƠNG’ là tác phẩm được biết đến nhiều nhất của Bùi Vĩnh Phúc.
Cuốn sách này viết về một số nhà văn, nhà thơ, nhà tư tưởng mà đa số chúng ta đã được quen biết với chữ nghĩa và đóng góp của họ đối với văn học dân tộc. Tất cả những vị này đều xuất phát từ nền văn học miền Nam VN, nhưng họ, những con người này, là tập hợp của những gốc miền, những tiếng nói và giọng điệu khác nhau, từ cả ba miền Nam Trung Bắc. Tôi chỉ ước mong, với 9 khuôn mặt, 9 phong khí được nhắc đến, cuốn sách có thể làm ánh lên đâu đó cái đẹp, cái rực, cái mềm mại, cái cương ngạnh, cái bay lượn, và cái phong nhiêu, sinh động của cả một vùng trời đất, cỏ hoa, một vùng văn hoá.
Sau đây Trang Văn xin mời độc giả thưởng thức trích đoạn viết về 3 nhà văn nổi tiếng nhất của văn chương Miền Nam. NGUYỄN & BẠN HỮU
Bùi Vĩnh Phúc
Về Thanh Tâm Tuyền
Thanh Tâm Tuyền là khuôn mặt, là tiếng thơ độc đáo của nhóm Sáng Tạo. Ông là một biểu tượng thơ của miền Nam sau 1954. Một biểu tượng mở cõi. Tiếng nói ấy của thơ, nơi Thanh Tâm Tuyền, không giống với những tiếng nói trước đó hoặc cùng thời với ông. Thậm chí, sau ông. Ông lên tiếng về cuộc đời, về tự do, về tình yêu. Nhưng sự lên tiếng ấy mang trong nó một bản chất khác. Nó mới. Và nó làm ngạc nhiên, thích thú. Hoặc nó đem đến một hiệu ứng ngược lại: nó làm khó chịu, bực bội. Những thước phim đen trắng pha đầy chất tượng trưng-siêu thực trong thơ Thanh Tâm Tuyền vẫn chiếu nhấp nháy trong lòng ta. […]
Trên đường đi tìm một tự do hằng khao khát, Thanh Tâm Tuyền, như bất cứ ai chọn cuộc lên đường đầy thử thách để tìm một dải đất mới cho mình, đã có những lúc phẫn nộ. Có những phẫn nộ chính đáng, trong đó có những mầm hạt cho một hạnh phúc ước mơ sau này. Có những phẫn nộ xem ra vô lý, vô cớ, không dựa trên một lý do chính đáng nào cả, nếu ta không làm một cuộc nội soi vào tâm lý nhà thơ, không đi vào “thâm cung, mật thất” của tâm hồn ông. Nhưng thật ra thì phẫn nộ, phản kháng là yếu tính của con người nghệ sĩ, của kẻ sáng tạo.
Cần để ý đến những nỗ lực đổi mới thơ của Thanh Tâm Tuyền, kể từ khi ông viết những bài thơ tự do làm rối mắt, rối tim và rối trí nhiều người từ những năm cuối thập niên ’50. Thơ tự do của ông đã ghi một dấu ấn rõ nét trên khuôn mặt của thi ca miền Nam, nói riêng, và văn học nghệ thuật miền Nam Việt Nam, nói chung. Nó phản ảnh những ngày ông từ bỏ Apollon thanh thản, hài hoà, yên bình để chạm mặt Dionysos đầy biến động, hỗn loạn và cuồng nộ. Để, từ đó, “vượt qua” và “vượt lên”. Dấu ấn và ảnh hưởng ấy vẫn còn có thể được nhìn thấy cho đến hôm nay trên văn học cả nước, dĩ nhiên cùng với sự cộng hưởng từ nhiều nguồn ảnh hưởng khác.
Thơ tự do của Thanh Tâm Tuyền là một âm bản lạ lùng của/về thành phố & tình yêu, cùng với những biểu tượng nhiều mặt và đứt gẫy, mất liên hệ của chúng, phản ảnh tâm thức cùng lúc hoà đồng với mọi sự, mọi vật chung quanh, như cả ông cùng với những vật, những người, những sự đó đều được làm bằng cùng một chất liệu, đồng thời, nó cũng cho thấy, từ trong vô thức cho đến phong cách, diễn ngôn bên ngoài của ý thức, cái tinh thần “tôi là người là một người khác” nơi ông. Hình ảnh cái tôi bị xé rách từ chính nó trong thơ Thanh Tâm Tuyền làm người đọc, nếu không quen biết với một vài tác giả nổi bật, đặc biệt những tác giả liên hệ đến thuyết hiện sinh, cảm thấy ngỡ ngàng, quái dị và xa lạ.
Nhưng tập thơ Thơ ở đâu xa, viết trong giai đoạn tù ngục, khoảng 30 năm sau, lại cho thấy một dương bản nơi ý thức sáng chói của nhà thơ. Nó viết về đời sống cùng khổ nhưng đầy ý nghĩa của một người. Nó viết về thiên nhiên, dịu hiền, khổ hạnh, bình đạm và thậm chí thơ mộng của con người ấy. Nó như một thứ nhật ký về đời sống đày ải. Có khắc khoải, đớn đau, nhưng cương ngạnh, tha thiết.
Trong Thơ ở đâu xa, cái mới của Thanh Tâm Tuyền được phát lộ trong hình ảnh, đã đành; nhưng điều quan trọng, tạo nên một dấu ấn rõ nét trong thơ ông, ở thời kỳ này, là, ngoài một số bài thơ tự do theo lối cũ nhưng với một sắc thái mới, giản dị hơn, buốt sắc hơn, thơ mộng đằm thắm hơn, và cũng mới lạ hơn trong phần chữ nghĩa cũng như trong tiết nhịp và vần điệu, ngoài một vài bài thơ xuôi rất đẹp, thơ mộng và thiết tha đến nao lòng, ngoài một vài bài lục bát mà hình ảnh mới và đẹp như búp nõn, những bài còn lại là những bài thơ tám chữ, bảy chữ, sáu chữ, năm chữ, bốn chữ. Một số bài chỉ có bốn câu, như thơ tứ tuyệt đời Đường, đôi khi lại như thơ haiku của Basho hay Issa.
Trong những bài thơ mang phong khí cổ ấy, cái mới và cái làm nên Thanh Tâm Tuyền vẫn là những hình ảnh rất sáng tạo, rất sắc nét và rất riêng của ông, được đặt trên một cái nền u nhã và có vẻ cổ kính. Đó là một kết hợp rất nghệ thuật. Chúng là những hình, những ảnh, những âm, những chữ cương ngạnh, thiết tha, rực sáng, reo múa nơi hồn người.

Bùi Vĩnh Phúc và Tác Phẩm
Về Mai Thảo
Mai Thảo được biết đến, nhiều nhất, qua cách hành từ, tạo từ, diễn ý, và chấm câu. Nói chung, một cách nào đó, ông là người được xem là đã cách tân ngôn ngữ, trong văn chương miền Nam sau Tự Lực Văn Đoàn. Sự cách tân đó được người đọc nhìn thấy rõ nét trong chữ nghĩa của Mai Thảo. Đặc biệt trong nhịp hành văn.
Chữ nghĩa của Mai Thảo là một nét đặc thù riêng ở nơi ông. Có thể nó cầu kỳ ở một vài khía cạnh nào đó, nhưng cái cầu kỳ ấy đẹp. Nó đẹp, cũng như sự giản dị có cái đẹp của nó. Cái đẹp của văn chương Gustave Flaubert và cái đẹp của văn chương Alphonse Daudet là hai cái đẹp khác nhau. Một cái cầu kỳ, trau chuốt. Một cái đơn sơ, nhẹ nhàng. Cũng thế, cái đẹp của chữ nghĩa Hemingway và cái đẹp của chữ nghĩa Kahlil Gibran không đồng dạng. Một cái trơ, trần, ngắn gọn, và sắc. Một cái mượt mà, thanh cao, nhiều tính gợi ý, gợi hình. Nhưng mỗi cái đẹp ấy đều đã được sáng tạo với một sự khổ công nào đó. Và những ánh sáng phát ra từ chúng đều khiến cho chúng ta hạnh phúc để cảm nhận rằng đời sống đã trao tặng cho chúng ta nhiều điều. Và những người được đời sống dùng như sứ giả của sự trao tặng kia đều là những người đáng để cho chúng ta yêu mến. […]
Chữ, ở Mai Thảo, không lắm khi mọc lên như rừng, với những cây cành, lẻm nhọn. Mà chữ, nơi ông, thường ánh lên và sóng sánh như một biển đầy ánh sáng, đầy sắc màu. Mềm mại, gợn sóng, và vang âm. Những con âm rì rào, thao thiết. Trong chiều, trong đêm, hay khi về sáng.
Những bước chân âm trải sóng khắp lòng ta.
Về Vũ Khắc Khoan
Vũ Khắc Khoan là con người của “lộng ngôn”, của “thác ngôn”. Là con người của “tuý bút”. “Lộng”, như một trào lộng, ngoa ngoắt, tung tẩy. “Thác”, như một ký gửi, một hàm nghĩa. Và “tuý” (không phải “tuỳ”), như một say đắm, ngất ngư, phóng thả. Nhưng vẫn đầy chất suy tư. Nhà văn họ Vũ cũng là người của những “huyền truyện”, những truyện tưởng như cổ tích, dựa vào cổ tích, nhưng lại thấm đẫm chất suy tư của con người thời đại. Chúng ẩn giấu cái nhìn triết lý để nói về những chọn lựa chính trị, về cái thế đứng (nhiều khi khó khăn, chênh vênh) của con người, đặc biệt của người trí thức, người nghệ sĩ, trước thời cuộc, trước lịch sử. Con người đối mặt với cuộc hiện sinh mang nhiều nét phi lý của mình.
Con người trong truyện của Vũ Khắc Khoan cũng là con người mải miết thiết tha đi tìm cái đẹp, cho dù biết cái đẹp đó chỉ là ánh lửa của một ngọn đèn lập loè, lấp loá trong đêm. […]
Người ta có thể nói đến một “chất kịch” của Vũ Khắc Khoan. Cái chất ấy toát ra từ phong cách riêng của họ Vũ. Nó nằm trong suy nghĩ, thái độ, ngôn ngữ, lối nói, cái nhìn về cuộc đời. Của riêng ông. Ngôn ngữ như những đường gươm, những thế chém tuyệt kỹ và đầy ánh sắc.
Vũ Khắc Khoan là một kiếm sĩ của ngôn từ. Và người đọc nhớ mãi những đường gươm của ông.
BVP









