Đức Phổ là nhà thơ nổi tiếng từ nhiều năm nay. Anh quê gốc Thừa Thiên-Huế. Học Quốc Học Huế, Đại Học Luật Khoa Sài Gòn. Đi lính Hải Quân VNCH. Đi tù CS từ 1975. Sang Mỹ năm 1996, hiện định cư ở Atlanta, Georgia. Thơ anh thường xuyên có mặt trên Văn, Văn Học, Hợp Lưu, Chủ Đề. Tạp Chí Thơ, Thư Quán Bản Thảo, Phố Văn…và các trang mạng Văn Chương.
Đúng như Hoàng Xuân Sơn nhận định, “Dòng thơ Đức Phổ là dòng thơ lang bạt kỳ hồ của kẻ hát rong”. Anh sáng tác đủ thể thơ: lục bát, thất ngôn, ngũ ngôn, có cả thơ tự do và tân hình thức. Đức Phổ nặng tình với quê hương, quá khứ và bè bạn. Thơ anh mang ý tình đằm thắm, đôi khi điểm nụ cười dung dị, rất được bạn thơ và người đọc yêu mến.
Sau Một Chỗ Về, Mùa Tình Xin Kịp Gặt, Đức Phổ xuất bản Tuyển Tập Thơ dày trên 350 trang. Sau đây Trang Thơ xin giới thiệu bài viết của San Phi về thơ Đức Phổ.
NGUYỄN & BẠN HỮU
SAN PHI
Trong dòng chảy văn học hải ngoại, thơ Đức Phổ không chỉ là mảnh trầm tích, mà còn là một phế tích của sự ngăn nắp trí tuệ lặng lẽ ủ kín, nhưng sức nặng thì chưa bao giờ vơi cạn. Thơ ông là bản tự sự gan ruột của một kẻ sĩ dù đi qua giông bão vẫn giữ cho mình một tư thế đứng thẳng, một dáng ngồi cô độc giữa hoàng hôn nhân thế. Các nhà phê bình như Nguyễn Vy Khanh hay Trần Hoàng Vy đều có chung một góc nhìn: Đức Phổ là một “người thợ kim hoàn cẩn trọng”, luôn chắt lọc ngôn từ để nỗi đau không bị loãng đi trong những câu chữ sáo mòn.
Nhà thơ Đức Phổ là một tiếng thơ giàu nội lực của văn học hải ngoại. Với các tập thơ đã xuất bản, ông đã định hình một phong cách thơ riêng biệt: giản dị nhưng thâm trầm, cổ điển pha chút tân kỳ. Thơ ông là nhịp cầu nối giữa quá khứ chiến tranh, cảm giác lưu vong và sự thức tỉnh của một lương tri luôn hướng về nguồn cội .
Hai năm quen biết, tôi tìm thấy ở nhà thơ Đức Phổ không chỉ là một người đàn anh tử tế, còn đồng nhịp trong cách nhìn về những mảnh vụn. Giữa bề bộn nhiễu sóng. Kết nối cùng ông qua nhịp cầu thi ca là một duyên lành đáng trân quý. Với tôi, chữ nghĩa chỉ thực sự đứng vững khi được dựng xây từ một cốt cách thẳng ngay; và ở Đức Phổ, ký tự chính là một cuộc phục sinh từ nhịp đập vô hình, nơi hạt nhân văn vẫn rực sáng một đóa quỳnh dẫu bao phen bị đời mài giũa thành những vết bầm kiêu hãnh. Thơ Ông viết như đang tự đối thoại với chính mình, nơi cái tôi trữ tình không ngừng trăn trở.
“Thử vạch đường trăng tìm thử mộng
chia nhau phấn nhụy thấm đời sau.
Chút tương lai mỏng như sợi chỉ
hãy nương tay giữ chút mơ mòng
Vết đạn cài xuyên tâm năm ấy
nay vẫn chưa lành chưa thể đơm da.
Thời gian bôi thuốc như thoa mỡ
lên những mạch đời đã rách toang.”
(Trích: Phấn Nhuỵ Thắm Đời Sau)

Sự đối lập mà Đức Phổ phơi bày không đơn giản là thủ pháp nghệ thuật; ẩn sâu một triết lý về sự tồn tại. Dường như thời gian không còn là liều thuốc để chữa lành mà trở thành tấm màn che đậy những thương tổn, ông để người đọc đối diện với cái «phi lý» của hiện tồn – nơi con người phải tự kiến tạo ý nghĩa trong một vũ trụ dường như chẳng hề có hồi đáp. Với ông, thời gian chỉ là sự kéo dài của những vết rách không bao giờ khép miệng.
Trong thơ, Đức Phổ không nhìn đời bằng một khối liền mạch, mà như một chiếc bình đã vỡ tan. Ông không cố hàn gắn lại lần theo những vết nứt để đan dệt chữ nghĩa với nhau, để mặc cho những mảnh hồn vỡ nát tự cất tiếng. Đó là một tư duy sâu sắc: nỗi đau lớn nhất là sợ mất bản ngã khi cứ mãi lạc lõng giữa cõi người.
Đặc biệt, dấu ấn hình thức trong thơ ông rất riêng. Qua góc nhìn của nhà thơ Hoàng Xuân Sơn, ta thấy Đức Phổ có lối thơ lục bát đầy dụng công: ông không tuân theo sự trôi chảy đơn thuần mà chủ động xuống dòng, ngắt quãng. Lối ngắt nhịp này, theo cách tôi cảm nhận, chính là sự mô phỏng những nhịp thở gấp gáp, những khoảng lặng bàng hoàng giữa hiện tại và quá khứ. Kết hợp với việc sử dụng đắc địa những phương ngữ như “chộ”, “mệ”, “ôn”, ông đã tạo nên một sự hòa quyện giữa chất Huế cổ kính và nét phong trần của một người lính đã nếm trải đủ “mùi phèn nước mặn”. Chính việc giữ lại âm hưởng địa phương giữa những khoảng lặng ấy là cách ông neo giữ “căn cước của linh hồn” trước sóng đời nát tan.
Trong địa tầng bảy chữ, tám chữ, ông không gồng mình vạch mây tìm trăng, chỉ lặng lẽ vá lại những mảnh vụn của một kiếp người vừa vỡ. Trong giới văn nghệ, Đức Phổ được quý trọng bởi tấm lòng. Nhà thơ Hoàng Xuân Sơn đã từng khẳng định: “Tình bạn của ông đối với anh em là chung nhất, trước sau không hề thay đổi, luôn luôn đối xử với bằng hữu như bát nước đầy”. Song, đằng sau nụ cười độ lượng ấy là một khoảng lặng đầy ưu tư.
Trong bài Ai Xô Ta Về Phía Tuyệt Tình, hình ảnh “Máu đông khô chết đứng một thiên tài” đã vạch trần một thực tại: trong thế giới của những chiếc “mặt nạ”, người chân thật và tài hoa nhất lại chính là kẻ dễ bị xô đẩy vào đường cùng nhất.
“Buổi sơ đầu trời khiến thiết tha nhau
mà ân oán không gieo. Đời buộc trả.
Ta nợ suốt! Khất với tình lần nữa
chờ giêng hai tháng rộng nối năm dài
Gượng rót tiễn người chung rượu đầu hôm
sầu dốc ngược. Đáy ly còn trơ mộng!
Khi bừng tỉnh tim gan dường cháy bỏng
máu đông khô chết đứng một thiên tài!”
(Trích: Ai Xô Ta Về Phía Tuyệt Tình)
Hình tượng “máu đông khô chết đứng một thiên tài” chính là vùng lõi của nỗi đau trong bài thơ. Cái chết ở đây là tư thế kiêu hãnh cuối cùng của một người không chịu khuất phục trước tầm thường. Đây là câu thơ tạo nên sức nặng cho cả bài.
“ta vẫn đứng nghiêng về một phía
nơi rừng sâu vực thẳm của nhân gian”.
Nghiêng là chọn lựa giữa ánh sáng và bóng tối…Khi con người bị ép phải hòa mình vào dòng chảy đục ngầu, bài thơ trở thành tiếng thét kiêu bạc của một kiếp người tử tế. Ông dùng chính nỗi đau để thắp lên thứ ánh sáng lạnh lùng, soi những góc khuất.
Dù đã hải hồ khắp các phương trời, nỗi đau lớn nhất của Đức Phổ vẫn là món nợ với mẹ, với quê hương.
“đã bao năm mái lá còn trơ
lòng mẹ giữa bốn bề phên dột
ta ở xứ người no cơm ấm cật
mẹ quê nhà áo vá phất phơ”
đã bao năm mẹ vẹn chữ tòng
ta hồ hải mấy mùa trăng rụng
sờ lại túi sông hồ còn nặng
mẹ già rồi vẫn còn long đong”
(Trích: Bên Trời Nhớ Mẹ)
Điểm son của đoạn thơ nằm ở sự đối lập nghiệt ngã giữa «no cơm ấm cật» nơi xứ người và «áo vá phất phơ» nơi quê nghèo. Hình ảnh «trăng rơi» và «lệ đắng» đã đẩy nỗi đau hiếu thảo thành một vực thẳm tâm linh, nơi mà người con dù đủ đầy vật chất vẫn mang theo một vết thương lòng trước sự hy sinh lặng lẽ của mẹ. Ông dùng chính những mảnh đời thực tại để làm gương soi.
Đến Vượt Biển, tiếng thơ ông trở thành «sử liệu bằng tâm cảm».
“ra đi đâu phải là tuyệt tích
tâm khảm hằn sâu kỷ niệm sầu
con chim cành gãy không muốn đậu
thì người vượt khó sẽ nên khôn”.
(Trích: Vượt Biển)
Nhìn sâu vào hình tượng “chim cành gãy”,.tôi không thấy sự bi lụy của một kẻ thất thế. Trái lại, đó là một tuyên ngôn về sự giải phóng đầy kiêu bạc. Ở đây, ta thấy thoáng bóng dáng của tư tưởng “Cư trần lạc đạo”. “Khôn” trong thơ Đức Phổ không phải là cái khôn của kẻ lọc lõi để thích nghi với quyền lực, mà là cái khôn của kẻ đã nhìn thấu vực thẳm nhưng vẫn chọn đứng lại giữa dòng trần. Đó là trí tuệ bất nhị: tham dự vào cuộc đời mà không để bụi bặm của đời làm hoen ố phần cốt lõi bên trong.
Hình ảnh “con chim cành gãy” là biểu tượng cho lòng tự trọng cao trước nghịch cảnh. Với Đức Phổ, như ông viết: “Con chim cành gãy không muốn đậu / thì người vượt khó sẽ nên khôn”. Câu thơ “ra đi đâu phải là tuyệt tích” như một lời khẳng định đanh thép về sợi dây kết nối với nguồn cội, bác bỏ mọi định kiến về thân phận lưu vong.
Đức Phổ đã biến tình yêu thành một nghi thức tự hành xác:
“Yêu có phải là viên thuốc đắng
bọc lớp đường ngọt lịm giữa bờ đêm…
yêu có phải ngọn dao trủy thủ
đâm suốt tim mình vẫn thấy vui.”
(Trích: Ngọn Dao Trủy Thủ)
Ông không chạy trốn nỗi đau, mà mời gọi như một cuộc phục sinh rượt đuổi. Sự kết hợp giữa «viên thuốc đắng» và «ngọn dao» cho thấy một sự giằng xé lộng lẫy giữa cái đau và cái đẹp. Ông chấp nhận bị thương như cách uống cạn linh hồn trong ký tự.
“Rượu trần ai” Ngay từ tiêu đề, đã mang tính biểu tượng cao. Người ta uống rượu để quên, nhưng thứ rượu này không để quên đi sự tồn tại, mà làm tê liệt những nỗi đau quá ngưỡng chịu đựng.
“rượu trần ai cất từ nước mắt
và mồ hôi của triệu dân lành
quê hương đã một thời cố quốc
lửa đốt lòng chỉ sợi mong manh!…”
(Trích: Rượu Trần Ai)
“Lửa đốt lòng chỉ sợi mong manh!…”

Nhà thơ Đức Phổ
Câu thơ này không chỉ là ẩn dụ, nó là trạng thái, là hiện hữu, là mong manh của một người đi tìm bóng cũ: …giữa thế giới mù sương, sợi dây kết nối quê hương vừa là chỗ dựa duy nhất, lại vừa là mật mã niêm phong sóng dữ. Quá đẹp, quá buồn và quá chân thật. Có thể thấy sự kết nối giữa «áo vá phất phơ» của mẹ với cái «sợi mong manh» trong Rượu Trần Ai; đều là những hình ảnh biểu trưng cho vẻ đẹp bị cuộc đời mài giũa, nhưng vẫn giữ được sự tinh khiết đến đau lòng.
Hình Ảnh “mảnh xương tàn gượng sống buổi sa cơ” trong bài Tùng Xẻo lại càng hiện rõ nét đẹp, vẻ bi tráng của kẻ biết rõ mình đang đánh đổi và sẵn sàng đặt cược tất cả. Đây là khoảnh khắc người thi sĩ đạt đến tư thế của một «kẻ làm chứng». Trong khi Lịch sử thường được viết bằng những con số vô cảm, thì văn chương của ông trả lại khuôn mặt, tên tuổi và nỗi đau cho những kiếp người. Trong “Tùng xẻo” ông trả lại khuôn mặt và nỗi đau cho những kiếp người bị lịch sử bỏ quên.
“Bạn đã về ngồi quán Chân Mây
nơi ta đã từng cùng bè bạn
nâng ly bia không thể nào uống cạn
khi bóng người nghèo lấp ló quanh đây.
Chắc bạn cũng như ta không về cùng áo gấm
chỉ chắt chiu nỗi nhớ để đem về
giữa bao la nghĩa tình mà món quà bé lắm
biết làm sao đắp đủ khắp dân quê.
Quán Chân Mây có món bò-tùng-xẻo
miếng thịt tươi ròng đỏ máu trên lò
bất chợt ta ngỡ mình đang chịu đòn-tùng-xẻo
mảnh xương tàn gượng sống buổi sa cơ!”
(Trích: Tùng Xẻo)
Thơ Đức Phổ, vì thế, hiện lên như bản trường ca của những người tử tế bị lưu đày, từng câu chữ trong thơ ông là hiện thân của sự im lặng dồn nén, được chưng cất từ tháng năm dài quan sát đời mình qua những vết nứt, để rồi khi cất tiếng, là lời khẳng định đanh thép về sự sống sót kỳ diệu của những linh hồn vẫn mãi “đứng nghiêng về một phía” nơi vực thẳm của cõi nhân gian.
Trong thời đại mà mọi tư tưởng đều được khuyến khích “quy chuẩn hóa”, thì sự hiện diện của những linh hồn “đứng nghiêng” như trong thơ Đức Phổ là một sự cảnh tỉnh. Chúng ta cần những người đứng nghiêng như thế, bởi chính sự mất cân bằng ấy mới tạo ra sự thăng bằng đích thực.
Tôi tự vấn giữa núi rừng bạt gió: vì sao một kẻ sinh sau lại đau cùng vết đạn xuyên tâm của người đi trước? Có lẽ sự kết nối nằm ở tần số tâm thiền giữa cơn bão im lặng. Ở Đức Phổ, tôi thấy những mảnh vụn phấn nhụy chưng cất từ vết bầm đã mỉm cười; cuối cùng, vẫn là nhành hoa dại nở rực trên vách đá cuộc đời.
Sau khi nghiền ngẫm những dòng thơ trĩu nặng, tôi viết lại vài dòng này như một sự tri ân. Nỗi niềm của một người lữ khách đi tìm bóng cũ trong những ngày nắng nhạt, để rồi tôi bất chợt nhận ra: những phấn nhụy ấy không chỉ là của riêng ông, mà của bất kỳ ai từng cùng tôi chắt chiu những buồn vui thành một khoảng lặng.
“Nắng chiều soi bóng đơn côi
Gói bao ký ức bồi hồi vào thơ”.
Liệu trong mỗi chúng ta, có ai chưa từng một lần dám đứng nghiêng về phía vực thẳm? Để giữ lại chút phấn nhụy thắm cho đời sau.
SP – Ngày 8 tháng 3 năm 2026








