Bây giờ hầu như bất cứ gia đình nào đều dùng nồi cơm điện để nấu cơm. Mua một nồi cơm điện luôn kèm theo cái muỗng bới cơm bằng nhựa. Theo thời gian, nồi cơm điện có thể hư, thay nồi mới nhưng cái muỗng xới cơm vẫn còn xài hoài, nhà tôi đến mấy cái. Thế nên, nhiều người trẻ không thể nào biết được ngày xưa có đôi đũa cả.

Gia đình tôi quen gọi “đũa cả” do ba tôi người miền Bắc. Mà tôi đoán, có lẽ bởi nó là đôi đũa lớn nhất (anh cả) trong các loại đũa. Mẹ tôi dân Thành (Diên Khánh – Nha Trang), bà gọi đơn giản là đôi đũa bếp, làm bằng tre dài (khoảng 30cm), một đầu to hơi bè (rộng khoảng 3cm), một đầu nhỏ hơn.

Thế nhưng, mẹ tôi lại có đến hai loại đũa bếp. Một đôi dài hơn đũa ăn cơm bình thường, dùng để chiên xào, tránh dầu mỡ bắn vào tay. Ðôi đũa ấy bây giờ vẫn thấy trong nhiều gia đình, chưa có dụng cụ nào thay thế. Loại thứ hai là đũa cả, ngoài nhiệm vụ chính là để xới nồi cơm, nó còn dùng để bắc nồi trên bếp xuống, trở đầu gắp than hồng (vậy nên đầu này của đôi đũa luôn bị cháy sém đen); thậm chí không loại trừ việc bà mẹ đang trong cơn bực tức đứa con vì cái tội gì đó, tiện tay cầm cây đũa cả quất vào mông nó. Tôi nghĩ, nhiều người đã từng có kỷ niệm vài lần bị đòn kiểu này!

Thế hệ tôi, nói về đôi đũa cả bất cứ ai đều nghĩ ngay đến bữa cơm gia đình đông đủ mà ngày xưa thường bày ra trên chiếc chiếu. Vị trí từng người cố định. Như mẹ thường ngồi cạnh nồi cơm làm công việc bới cho từng người, gọi là ngồi đầu nồi.

Người ngồi vị trí đầu nồi phải ăn thong thả, ý tứ quan sát mọi người, ai sắp hết cơm thì dừng ăn và chờ sẵn sàng để bới tiếp cơm. Ba có thể ngồi chính giữa, bên đối diện mẹ. Và những đứa con thì tùy, cố định hay thay đổi ngẫu hứng. Nhà có dâu thì con dâu ngồi đầu nồi đối diện với mẹ, để có thể thay mẹ bới cơm bởi trong bữa ăn mẹ hay đứng lên lấy thêm thứ này, thứ khác. “Ăn trông nồi, ngồi trông hướng” là vì thế. Tôi nghĩ, một câu dạy khá hay của người xưa nói về tính chu đáo, tế nhị, vén khéo, ý tứ… bất cứ ai khi ngồi vào bàn ăn mà lớp trẻ bây giờ ít chú ý.

Xem thêm:   5 ngày ở Sài Gòn

Ngôi nhà cũ của chúng tôi hồi ấy có nhà trên và nhà dưới được ngăn cách bởi một cái sân khá rộng. Chiều xuống, mẹ còn trong bếp thì ba trải chiếc chiếu ra giữa sân. Có lúc ba trải sớm hơn thì mẹ hiểu là ba đang đói bụng, khiến bà nhanh tay trong bếp. Mỗi người một việc, đứa lau chén, đứa bê nồi cơm… Loáng cái, chiếc chiếu đã đầy đủ các món trên mâm cơm, chén đũa cho từng người. Mở vung nồi cơm bốc khói, đầu tiên mẹ xới lên cho tơi rồi mẹ bới vào từng chén. Nhà đông con, mẹ bới một lượt, chưa kịp ăn đã có đứa đưa cái chén không cho mẹ bới thêm chén nữa. Nhiều lúc sạch nồi mà mẹ chưa có hạt cơm nào vào bụng là bình thường.

Cơm nấu bằng nồi gang mới ngon. Ðể có được cơm mềm, dẻo và miếng cơm cháy giòn, vàng ươm dưới đáy nồi là điều căn bản của việc “biết” nấu cơm. Người vụng về, nấu ra nồi cơm “trên sống, dưới khê, bốn bề nhão nhoét”. Mẹ dạy, cơm sống là bởi than trong lò không đủ sức nóng làm chín cơm; khê là do để lửa quá lớn, cơm dưới đáy nồi bị cháy nâu đen, có mùi khét, không ăn được, phải bỏ đi. Bốn bề nhão nhoét là cho quá nhiều nước.

Bởi thế, ngày xưa bài học đầu tiên khi vào bếp của người phụ nữ có lẽ là việc nấu cơm. Hồi đó mẹ tôi kỹ lắm, trước khi nấu phải mang gạo ra lượm thóc, bông cỏ, sạn… Một thời “ngăn sông cấm chợ”, gạo không ngon, có sạn nhiều, mẹ còn làm công việc đãi sạn nữa. Ðể hai thau nước, gạo trong rá thau thứ nhất, mẹ lược từ từ qua thau nước thứ hai, mục đích cho hạt sạn (nặng hơn) nằm dưới đáy rá. Sau đó có thể ngâm gạo cho mềm hay chỉ cần vo sạch rồi để ráo. Chờ nước sôi mới đổ gạo vào và phải ngồi ngay bếp canh chừng để nồi cơm không bị sôi trào làm tắt bếp, có thể khiến tro bay lên tứ tung.

Xem thêm:   Mẹ-Bà và Con-Cháu

Cơm sôi, lấy đũa cả đảo một vòng rồi hé vung chờ cơm cạn nước. Sau cùng, cời than bên dưới lò tản ra cho đều, lửa nóng vừa đủ chín cơm, đồng thời gắp một ít than hồng để lên nắp nồi cho cơm chín bên trên. Cơm chín, giở vung, lấy đôi đũa bếp xới lên cho cơm chín đều, tơi, ngon. Nhớ ba tôi không nói “xới cơm” mà là “đánh nồi cơm”.

Tôi cam đoan bây giờ khó tìm các cô gái thế hệ từ 8X về sau nấu được nồi cơm cho khéo. Còn nữa câu dặn của người xưa: “Chồng giận thì vợ bớt lời/Cơm sôi bớt lửa chẳng đời nào khê”, ý rằng vợ chồng phải biết cư xử đúng mực, khôn ngoan, nhu thắng cương, bài học về chữ “nhẫn” trong cuộc sống hôn nhân.

Cơm ngon là hạt cơm tơi, rời, mềm và bên dưới có miếng cháy vàng ươm (rất gợi thèm). Có người thích ăn cơm cháy giòn, vàng sậm, có người thích cơm cháy mềm, vàng nhẹ. Biết ba tôi thích ăn cơm cháy, mẹ xới cho ba chén cơm cuối luôn có miếng cháy nhỏ. Ông cầm tay miếng cơm cháy chấm với nước cá kho hay thịt kho, nhai giòn rụm trong miệng. Ðám con lau nhau đưa chén cho mẹ mong được miếng cơm cháy. Ðó là bức tranh chiều bình yên, thân thương quá đỗi của bất cứ gia đình nào.

Tôi tìm trên mạng bây giờ vẫn thấy có bán đũa cả và đũa bếp dài, bằng nhiều chất liệu như gỗ, tre, dừa. Quá lâu rồi, gần nửa thế kỷ, tôi không dùng nó nên thấy không giống đôi đũa bếp ngày xưa của mẹ.

Xem thêm:   Alaska đi về xứ tuyết

Còn nữa, một hôm tôi nhờ người quen đi chợ mua giùm đôi đũa bếp xới cơm. Người mang về đưa tôi có một chiếc. Tôi ngạc nhiên, hỏi ra mới biết, người miền Nam quen dùng chỉ một chiếc đũa cả để xới, đảo nồi cơm.

Không biết có phải vì thiếu đôi đũa cả xới cơm mà ngày nay nhiều gia đình không có thói quen xới cơm trước khi múc ra chén (xới bằng đũa ăn bình thường). Thậm chí, còn phó mặc hết cho nồi cơm điện, đến khi ăn, xúc muỗng cơm cảm giác như một “khối” cơm bỏ vào chén.

Anh về bán bộ trã rang (?)/Bán đôi đũa bếp, cưới nàng có dư”, chợt nhớ hai câu ca dao mẹ tôi thường hay đọc. Ngày xưa đôi đũa bếp quý giá đến vậy, theo ý tôi là nói lên mối gắn kết tình cảm vợ chồng, cha mẹ, con cái với bữa cơm ngon mà nồi cơm làm “chủ đạo”.

ĐTTT