Tướng Westmoreland quyết định dùng Vũ khí Hạt Nhân vào giờ cuối, khai tử gần 3 Sư Đoàn thiện chiến 304, 324, 320 của Bắc Việt đang bao vây căn cứ Khe Sanh. Nếu không có quyết định cứng rắn từ Tổng Thống Johnson thì cục diện Việt Nam đã không như bây giờ…

Lính Mỹ, trận Mậu Thân. nguồn.wordpress.com

Năm 1968, là một năm xấu cho Mỹ tại Việt Nam và Tướng Westmoreland – Tư Lệnh Quân Ðội Mỹ.

Từ lúc cuộc chiến khởi đầu 1964, ông Westmoreland thường nói rằng chiến tranh VN sẽ chuyển hướng theo một kế hoạch thành công. Khi Cộng quân bất ngờ tổng công kích các thành phố miền Nam vào Tết Mậu Thân đầu năm 1968, những điều tiên đoán của Westmoreland trở thành lố bịch.

Áp lực của Cộng quân càng nặng nề hơn với cuộc tấn công, bao vây một đơn vị đồn trú TQLC Mỹ tại Khe Sanh, sát vĩ tuyến 17.

Lính Mỹ, Mậu Thân. nguồn.ebay.com

14 năm trước, quân Việt Minh đã chiến thắng một đơn vị đồn trú của quân đội Pháp tại Ðiện Biên Phủ, cho nên Mỹ lo sợ rằng đơn vị TQLC tại Khe Sanh có thể lặp lại số phận.

Theo những tài liệu đã được giải mật năm 2016 cho biết, mối lo ngại khiến Tướng Westmoreland đã đệ trình kế hoạch dùng Bom Hạt Nhân chống lại quân Bắc Việt.

Tên của kế hoạch là “VỠ HÀM”, với mục đích tránh thảm họa Khe Sanh.

Quân Bắc Việt pháo kích Khe Sanh. nguồn.wordpress.com

Năm 1964, khi Tướng Westmoreland bắt đầu làm Tư Lệnh, tại VN chỉ có 16,000 lính Mỹ, hầu hết là Cố Vấn Quân Sự và những nhân viên hỗ trợ cho Nam VN. Cuối năm 64, như đề nghị của Westmoreland, quân Mỹ được đôn lên 200,000 người, kể cả những đơn vị tác chiến. Từ yểm trợ quân đội Nam VN chống lại Cộng Sản, quân đội Mỹ đã chuyển sang tác chiến trực tiếp với Việt Cộng và quân Bắc Việt.

Xem thêm:   Saigo Takamori - Người Võ Sĩ Đạo cuối cùng

Càng lúc, nước Mỹ càng lún sâu vô vũng lầy của cuộc chiến. Khi chiến tranh leo thang và đẫm máu, Westmoreland vẫn hứa hẹn với các chính trị gia Mỹ sẽ thành công tại VN nếu được cung cấp nhiều nhân sự và khí cụ. Tổng Thống Johnson và Bộ Trưởng Quốc Phòng McNamara chấp thuận; số quân Mỹ tại VN tăng dần và đã lên đến 535,000 vào năm 1968.

Nhưng không phải Westmoreland hoàn toàn đáng trách. Các chính trị gia đã giao cho ông ta một trách nhiệm khó khăn. Ông vừa phải đối phó với cuộc tấn công của quân Bắc Việt, đồng thời tiến hành cuộc chiến mạnh mẽ để đánh bại Việt Cộng phía Nam. Quân đội Mỹ giữ thế phòng thủ chiến lược, không tấn công trực tiếp miền Bắc vì tránh lôi kéo Trung Quốc nhảy vô cuộc chiến VN.

Trận chiến Khe Sanh. nguồn.historynet.com

Vào những năm 1960, chiến tranh Bắc Hàn vẫn còn được nhớ rõ, đặc biệt là vụ Tướng Douglas MacArthur đánh vô biên giới Trung Quốc đã kích hoạt họ tham chiến trực tiếp tại đây.

Không ai muốn lặp lại chuyện đánh nhau với Trung Quốc, lần này tại Việt Nam.

Vì vậy Westmoreland bị cột tay.

Phải biết là bao khó khăn cho quân của Westmoreland đánh đấm với Việt Cộng phía Nam, kẻ thù cứ bám sát quân Mỹ mà đánh, hầu như họ không quan tâm tới số tử vong quá cao cho quân Bắc Việt và Việt Cộng, lúc nào cũng có lính sẵn sàng thay thế những người chết.

Từ trái: Tướng Westmoreland, Bộ Trưởng Quốc Phòng McNamara, Tổng Thống Johnson. nguồn.historycollection.co

Trong khi đó, số tử vong của quân Mỹ tiếp tục tăng mỗi ngày, mỗi năm. Từ 216 người tử trận lúc Westmoreland nhậm chức, tăng cao tới 1,928, năm 1965. Năm 1966, số quân Mỹ tử trận tăng vọt tới 6,350; năm 1967 càng chết nhiều hơn với 11,363. Cho nên cũng có thể hiểu rằng năm 1968, đã lên tới con số 17,000 người, năm mà lính Mỹ chết nhiều nhất.

Xem thêm:   Phố biển Marblehead

Tướng Westmoreland nản lòng nên quyết định dùng vũ khí Hạt Nhân tại VN.

Năm 1967, khi ông điều trần trước Quốc Hội Mỹ, đã tuyên bố “Chắc chắn chúng ta sẽ chiến thắng Cộng Sản xâm lược tại Việt Nam.”

Cuộc Tổng tấn công Tết Mậu Thân năm 1968 đã khiến nhiều người mất lòng tin với Tướng Westmoreland.

Tướng westmoreland, Tổng Thống Johnson tại VN. nguồn.the-atlantic.historycollection.co

Thật mỉa mai, nếu coi rằng Tết Mậu Thân là một chiến thắng của Quân Mỹ đối với sự thất bại cỡ lớn của Cộng Sản. Ðiều tương phản nhức mắt giữa sự lặp đi lặp lại rằng chiến tranh đang diễn biến tốt đẹp của Westmoreland, trong lúc các hình ảnh trên báo chí và bản tin mỗi đêm cho thấy quân Cộng Sản tấn công, gây thiệt hại khắp tỉnh thành miền Nam.

Khi Tết Mậu Thân bắt đầu, Westmoreland đang quan tâm tới chuyện một Ðơn Vị TQLC Mỹ đồn trú tại Khe Sanh, gần giới tuyến 17, bị bao vây. Ngày 21-1-1968, 9 ngày trước cuộc Tổng công kích, hơn 10,000 quân Bắc Việt mở cuộc tấn công, bao vây và đe dọa tràn ngập Khe Sanh.

Hoàn cảnh của một Ðơn Vị TQLC Mỹ bị bao vây, cô lập đã làm hồi tưởng lại số phận bi đát của quân đồn trú Pháp bị vây hãm và đầu hàng tại Ðiện Biên Phủ trong cuộc chiến Pháp -Việt.

Máy bay Mỹ bị quân Bắc Việt bắn hạ tại Khe Sanh. nguồn.stripes.com

Có thể hiểu rằng, khi Bắc Việt vây Khe Sanh năm 1968, Westmoreland lo sợ về một Ðiện Biên Phủ khác làm mồi cho sự sụp đổ của quân đội và dân chính Mỹ.

Khi tình hình Khe Sanh càng bi thảm, Tổng Thống Johnson đã được Tướng Westmoreland, Bộ Trưởng Quốc Phòng MacNamara bảo đảm là sẽ không trở thành một Ðiện Biên Phủ cho Quân Ðội Mỹ tại VN.

Xem thêm:   Montreal Jazzfest

Ðể chống lại bối cảnh đó, Westmoreland đưa ra kế hoạch dự phòng mà Tổng Thống Johnson không hề biết.

Dùng vũ khí Hạt Nhân đánh Quân Bắc Việt.

Westmoreland gởi cho Đô Đốc Sharp, chấp thuận chiến dịch bể sọ. nguồn.new-york-times

Chơi cú chót để ngăn chặn thảm họa nếu tình hình trở nên tuyệt vọng tại Khe Sanh.

Mật danh kế hoạch là “VỠ HÀM”.

Westmoreland đã ra lệnh bí mật chuyển vũ khí Hạt Nhân tới miền Nam, sẵn sàng trong tay để sử dụng ngắn hạn trong việc chống lại quân Bắc Việt nếu cần thiết. Vào ngày 10-2-1968, Tướng Westmoreland gởi tin tuyệt mật cho Ðô Ðốc Grant Sharp, Tổng Tư Lệnh Thái Bình Dương, báo rằng “Kế hoạch VỠ HÀM đã được tôi chấp thuận”, ông cũng thông báo cho các Tư Lệnh Quân Ðội khác, như Chủ Tịch Hội Ðồng Tham Mưu Trưởng Liên Quân, Tướng Earle Wheeler và bàn luận với họ về các chi tiết thực hiện cú “VỠ HÀM”.

Đơn vị đồn trú Mỹ tại Khe Sanh. nguồn.flickriver.com

Tuy nhiên, nhân vật chính đã không được thông báo kế hoạch dùng vũ khí Hạt Nhân tại chiến tranh Việt Nam là Tổng Thống Johnson. Khi Walt Rostow, Cố vấn An Ninh Quốc Gia của Tổng Thống biết được và báo cho ông ta. Trợ Lý của Tổng Thống đã ghi lại cuộc họp về việc này tại Tòa Bạch Ốc “Khi Tổng Thống biết kế hoạch đã được chuẩn bị tiến hành, ông rất khó chịu, mạnh mẽ nói với Rostow, tôi nghĩ là nói thẳng với Westmoreland, dẹp ngay việc này”.

Khi mọi chuyện ngã ngũ, nỗi lo sợ về Ðiện Biên Phủ tại Khe Sanh đã dẹp tan. Chiến thuật Không Vận của Mỹ đã yểm trợ Quân đồn trú tại Khe Sanh với tiếp viện đầy đủ nhân lực và tiếp liệu, chống lại cuộc bao vây của Bắc Việt cho đến khi họ rút quân vào mùa Hè 1968.

Tướng Westmoreland ra khỏi Việt Nam và làm Tham Mưu Trưởng Quân Ðội Mỹ, Tướng Creighton Abrams thay thế Westmoreland để chuẩn bị cho sự rút giảm chiến lược của Quân Ðội Mỹ tại Việt Nam sau này.

By Khalid Elhassan

www.warhistoryonline.com