Châu Đốc có ba điểm du lịch nổi tiếng là Miếu Bà Chúa Xứ, Lăng Thoại Ngọc Hầu và Chùa Phước Điền mà dân gian hay gọi là Chùa Hang. Trong ba nơi này thì Phước Điền Tự có thể nói là đẹp và thanh tịnh nhất. Đến Châu Đốc mà không viếng Chùa Hang là một thiếu sót lớn.

Tổng quan Chùa Hang, với chiếc bảo tháp cổ xưa nằm ở giữa. (nguồn: Internet)
Chùa nằm lưng chừng trên núi Sam, áp vào sườn núi. Muốn lên chùa ta phải leo mấy trăm bậc thang bằng đá xanh khá vất vả; song cứ vài ba bước thì có chỗ bằng phẳng khá rộng để khách đỡ mỏi chân. Tuy nhiên, người già yếu hay ngồi xe lăn thì không cách nào leo lên nổi trừ phi được cáng hoặc cõng. Từ chùa, phóng tầm mắt về hướng Tây ta có thể thấy biên giới Cam Pu Chia phía xa xa. Vào mùa nước nổi những cánh đồng lúa ngập nước mênh mông, bát ngát như mặt hồ

Chùa được vây bọc bởi rừng cây xanh cùng nhiều loại hoa trông rất mát mắt. (IANBUI/TRẺ)
Thoạt kỳ thuỷ chùa chỉ là một cái am nhỏ, dựng lên bởi một người nữ tu tên Lê Thị Thơ. Bà quê ở Chợ Lớn, sinh năm 1818; nhà nghèo, làm nghề may vá nên dân chúng còn gọi là Bà Thợ. Năm lên 19 tuổi (1836) sau khi lập gia đình, vì duyên do gì đó bà xuất gia, được ban pháp danh Diệu Thiện. Năm 1839 bà thọ giới Tỳ Kheo Ni.

Sân gạch trên đường lên hang, nơi khách thập phương có thể dừng chân nghỉ mát và nhìn xuống Châu Đốc. (IANBUI/TRẺ)
Vài năm sau khi tá túc tại chùa Tây An gần đó, bà lên núi Sam tìm chỗ hẻo lánh để tu tập. Khoảng năm 1840-1845 bà dựng chiếc am bằng tre lá bên một cửa hang, bắt đầu một đời tu khổ hạnh. Tài liệu về bà cho biết có những năm tháng bà sống trong điều kiện thiếu thốn, có gì ăn nấy; song bà vẫn kiên trì ngày niệm Phật đêm tụng kinh.

Đường lên hang ngày nay được lát đá với đèn điện soi lối; thời của bà Thợ chắc nguy hiểm hơn nhiều. (IANBUI/TRẺ)
Truyền thuyết dân gian kể rằng, trong hang có đôi mãng xà thường hay ra nghe bà tụng kinh – một con xanh, một con trắng. Bà đặt tên cho chúng là Thanh Xà và Bạch Xà. Khi bà mất vào năm 1899, người ta nói cặp hổ mang này cũng biến mất theo. Chuyện này không thể kiểm chứng, nhưng nó nói lên khả năng cảm hoá lòng người (và vật) của sư bà Diệu Thiện và sự tôn kính của người dân dành cho bà.

Một trong những ao nước tự nhiên trong lòng hang, có nơi còn có gáo cho du khách hứng nước uống. (IANBUI/TRẺ)
Cảm mến đạo hạnh và công đức tu hành của bà, năm 1885 ông Phán Thông Nguyễn Ngọc Cang cùng người dân trong vùng quyên góp tiền bạc để xây lên một ngôi chùa khang trang hơn — với rui kèo bằng gỗ thao lao, nền lát gạch tàu, cột gỗ căm xe và mái ngói móc. Quyển “Giảng Bà Thơ” (xb 1953) chứa đựng những lời khuyên làm lành tránh dữ của bà, có thể đã được ghi chép vào thời điểm này.

Tiệm bày bàn kinh sách và đồ lưu niệm, nằm ở lưng chừng núi. (IANBUI/TRẺ)
Nhiều năm sau khi bà mất (1899), ngôi chùa không có người trụ trì thường xuyên. Mãi đến năm 1936 các đệ tử mới thỉnh hoà thượng Thích Huệ Thiện (1994-1980) về làm sư tổ. Ông cho sửa sang lại ngôi chùa sau nhiều thập niên thiếu người quản trị. Đây là bước đầu tiên khôi phục lại sinh hoạt Phật giáo trong vùng và tiếp nối dòng tu của sư bà Diệu Thiện. Những thập niên tiếp theo có thêm nhiều đợt trùng tu khác, cùng việc xây thêm một số hạng mục như ta thấy ngày nay.

Những cánh đồng ngập nước, đằng xa là biên giới Cam Pu Chia. (IANBUI/TRẺ)
Không tài liệu nào ghi rõ tên Phước Điền Tự là do ai đặt hay vào năm nào. Chỉ biết tên chùa không chỉ nói đến một vùng đất trù phú đầy phước lành mà còn mang ý nghĩa nơi Phật pháp được vun trồng, đơm hoa kết trái, đem lại phước đức cho đời sau. Một điểm lạ nữa là trên đường lên chùa có một tảng đá khắc chữ “Phúc Lâm Tự” thay vì “Phúc Điền Tự”; cần tra cứu thêm để biết xuất xứ của nó. Có lẽ phải quay lại Chùa Hang lần nữa.

Những mẹt muối ớt được phơi dưới nắng bên tảng đá ghi chữ “Phúc Lâm Tự”. (IANBUI/TRẺ)

Cựu Biên Tập Viên báo Trẻ; chuyên viết về Lịch sử, Âm nhạc, Nghệ thuật, Something/Anything. Từng làm kỹ sư điện toán. Hiện cư ngụ trong vùng Dallas.








