Sinh ngày 9.10.1952. Quê làng Phường Đông (Mỹ Hảo), Xã Đại Phong, Đại Lộc, Quảng Nam.
Hiện sống ở Thành Phố Đà Nẵng. Dạy học, viết báo và làm thơ
“Đâu phải chân mây nào cũng là nơi trời gặp biển
như Thu Bồn đêm nay tôi nghe tiếng vỡ
trăng rằm
nơi con sóng chạm vào phiến nguyệt.”
Nhân mấy câu thơ trên của Nguyễn Nhã Tiên, nhà thơ Du Tử Lê viết:
Đúng vậy Nguyễn! Đâu nhất thiết “chân mây nào cũng là nơi trời gặp biển”. Có khi, đó là điểm chia, lìa, in dấu những tai ương. Nhưng “nơi con sóng chạm vào phiến nguyệt” thì, với tôi, lại chính là nơi thi ca của Nguyễn, bất ngờ “xúc, chạm” được một vầng trăng. Thơ ông thường gắn liền với hình ảnh dòng sông (sông Hàn, sông Cổ Cò), bến nước, phố xưa hay những địa danh gợi nhiều cảm xúc như Hội An, Quy Hòa, Ghềnh Ráng hay Pleiku”.
Nguyễn Nhã Tiên đến với thi ca đã lâu. Có thể từ ngày Nguyễn còn rất trẻ. Hôm nay, tóc Nguyễn đã nhiều sợi bạc.
Tôi vẫn có xu hướng trân trọng những tác giả, càng lớn tuổi thì độ chín chữ, nghĩa, khả năng sáng tạo càng mạnh mẽ, khởi sắc. Họ là những người có được cả hai thành tố đáng quý: Độ bền và, đường trường. Với tôi, Nguyễn Nhã Tiên nằm trong số những người này.
Tiếp lời Du Tử Lê, mời các bạn đọc lại một vài bài thơ đặc sắc của Nguyễn Nhã Tiên. SAO KHUÊ

gió gọi
Cải đã hoa vàng em ạ
bao mùa gió bấc qua sông
thổi mãi không thành áo lụa
người đi bỏ tóc lại dòng
Đâu đây quen quen lời cỏ
mơ hồ trí nhớ tôi… sương
nhen nhúm làm sao nên lửa
thì thôi, cọng khói dẫn đường
Vốc đầy bàn tay hoa khói
núi xa cuồn cuộn mây về
chiều nghiêng thả quầng ráng đỏ
tôi còn mấy nỗi sơn khê
Núi xa gởi niềm sâu lắng
đường mây mắt dõi phương tìm
có gì xa bay hoang vắng
ngân một tiếng buồn lặng im!
đà nẵng mình tôi
Tưởng nhớ Sách thân yêu
Và tôi ở chỗ ngày qua em ở
phía Sơn Trà đỉnh núi vẫn mây bay
sông Hàn vẫn trôi
tôi thì ngồi lại
nước xa xăm câu chuyện kể ngàn ngày
Đà Nẵng bây giờ em không có mặt
biển sóng mồ côi
thơ dại lũ còng
cát vẫn trắng những chiều đầy môi mắt
thiếu một vai gầy phố xá mênh mông
Mùa xuân rồi mơ
mùa hạ rồi trông…
lối Cổ viện đường quen hoa sứ nở
tôi đang ở nơi ngày xưa em ở
chuyện ngày qua thành cổ tích ven sông
Một ít công viên một ít hoàng hôn
ít ráng đỏ chiều mang về từ núi
gom góp đốt cho bài thơ lên khói
có em về Đà Nẵng bớt mình tôi.
tiếng khuya
Chuyến tàu ấy đã khuất vào thăm thẳm
đã non cùng
đã bể tận
đã đâu đâu
sao ngọn đèn vàng trong mắt tôi chưa tắt
mỗi một ánh lên là văng vẳng tiếng còi tàu
Dường như cái ngày mùa đông em lên tàu
bỏ quên lại rêu xanh
những mật ngữ thời gian biếc từng âm sắc
để mỗi bận chuyển mùa xôn xao gió bấc
cứa vào ngực tôi ngọt xớt tựa dao mềm
Thôi nhé, đường quên không ngoái lại
tôi còn mưa nắng để tình nhân
còn một vườn hoang hồn cỏ dại
một tiếng dế kêu đủ bận lòng
Không nên nổi đường dài giờ trú ngụ sân ga
nương náu chia xa, ăn nhờ tiễn biệt
tàu đến tàu đi dốc vào tôi kỷ vật
mỗi tro than tôi tạc một hình hài
Những nhớ quên xây đắp đền đài
hư vô cả thôi sao ngàn tiếng vỡ
ai như tiếng khuya mơ hồ ngọn bấc lang thang
đầu ngõ
không một bóng người mà ngực nhói âm vang!
ngẫu hứng với
Thu Bồn
Đâu phải chân mây nào cũng là nơi trời gặp biển
như Thu Bồn đêm nay tôi nghe tiếng vỡ
trăng rằm
nơi con sóng chạm vào phiến nguyệt
gieo vàng ngọc khoáng phía xa xăm
Có mật ngôn nào thăm thẳm cổ phong
ngọn gió hư vô tìm người bến vắng
bài ca hoang vu một đời cỏ lau thầm lặng
ơ hay ! sinh hồn cỏ cây cũng cửa đợi sông hoài
Em thắp trời thiên đăng đã tắt tự bao giờ
có lửa nào không thành tro thành bụi
chân mây cũ càng rong rêu đếm tuổi
còn chút trăng khuya ngồi đợi non đoài
Bắt chước người xưa tay vỗ mạn thuyền
cao hứng ngâm tràn: Tôi làm trăng cổ độ
ai chạm hồn tôi trời nguyệt bạch
con mắt xa mờ phiến lụa lướt qua
Chân mây in hình bao mùa xuân xa
từng con sóng hai bàn tay tôi vớt
một chút ánh vàng rơi vỡ tung bèo bọt
vụn mảnh hồi quang găm tận đáy linh hồn .









