Lên trung học đệ nhất cấp, năm đệ lục thầy Hải dạy Kim Văn cho chúng tôi đọc Anh Phải Sống của Khái Hưng để tập bình giảng. Cuối giờ Lâm Ngươn Tuyến, cháu Đề đốc Lâm Ngươn Tánh đặt câu hỏi: “Nhất Linh vào Nam còn Khái Hưng ở lại miền Bắc ra sao, thưa thầy?” Thầy Hải trầm ngâm rồi nói: “Ông bị Việt Minh đóng cũi trấn nước thả trôi sông năm 47”. Nguyên lớp im phăng phắc vì sợ. Những ai sinh trưởng trong các gia đình Bắc di cư đều nghe cha mẹ kể về sự tàn ác của Việt Minh nhưng vừa đọc xong áng văn gây xúc động với bao cảm phục rồi biết tác giả bị thủ tiêu tàn nhẫn như người ta dìm chó… Chính những chi tiết ấy, như Đại lộ Kinh hoàng, thảm sát trường tiểu học Cai Lậy, Chôn sống Mậu Thân 68 khiến chúng tôi, các nam sinh của trường Lasan Taberd mỗi sáng thứ Hai hát vang Tiếng Gọi Công Dân dưới lá cờ vàng mong muốn lớn lên làm Người Quốc Gia.

Trong nhiều thập niên cái chết của Khái Hưng vẫn còn là một bí mật. Người ta biết ông bị hành quyết nhưng không biết hết chi tiết. Sưu khảo của Thụy Khuê là nghiên cứu đầy đủ nhất cho đến bây giờ.

[Trần Vũ]

Phần 2   |   kỳ 3

Thụy Khuê

Tinh thần báo Chính Nghĩa

Tờ báo chỉ sống được nửa năm, nhưng nó đã làm một nhiệm vụ lịch sử đặc biệt.

Nhượng Tống khắc tạc chân dung hơn 20 vị liệt sĩ: Ký Con, Song Khê (Xứ Nhu), Phạm Hồng Thái, Cụ Lê Cần, Hồ Văn Mịch, Mộng Tiên, Phó Đức Chính, Trần Quang Riệu, Bà Chánh Toại, Bà Ký Tường, Nguyễn V. Nho, Hoàng Văn Tùng, Nguyễn Văn Viên, Nguyễn Bá Tâm, Lê Hữu Cảnh, Tô Thúc Dị, Hải Kình, Ngô Hải Hoàng, Nguyễn V. Viển, Đội Lãng, Cụ Mai, Cao Thắng, Thủ Khoa Nghiã, Phạm Văn Nghị[31]. Những chân dung này ghi lại thời điểm chống Pháp can trường và tuyệt vọng của những người yêu nước chân thực, một số không ai biết đến, nếu không có những dòng chữ của Nhượng Tống.

Điểm đáng kể thứ nhì là những bài thơ ái quốc của các nhà thơ: Vũ Hoằng, Phù Bình Thảo, Phàm Cang, Nam Dân, Thanh Trúc. Sự hiện diện của những bài thơ hùng tráng luôn luôn có sức tuyên truyền mạnh mẽ trong lúc “tổ quốc lâm nguy”.

Phù Bình Thảo tức Chàng lẩn thẩn chuyên viết phiếm luận trên báo Việt Nam, còn viết tùy bút, xã luận và làm thơ trên Chính Nghiã. Thơ ông có những bài: Tịch mịch, Tử sĩ ca, Bằng hữu ca (Tặng Đỗ Tốn) và Thăm viếng [32]. Chàng lẩn thẩn bị bắt cùng thời điểm với Khái Hưng.

Vũ Hoằng viết chính luận và là nhà thơ có tay nghề, thơ ông giọng hùng tráng, bi ai, nổi trội nhất lúc bấy giờ, ông có bốn bài đăng trên Chính Nghiã: Qua bãi chiến trường, Đứng dậy, Bạn có thấy! Bạch Đằng[33]. Sau bài Bạch Đằng, ông bị biệt tích, trong tháng 9 năm 46.

Phàm Cang nối tiếp, làm bốn bài thơ:Tối bãi điêu tàn, Quán cổ bên đường, Vườn xưa, Rõi miền biên ải[34], Phàm Cang cũng chỉ làm bốn bài thơ, đến số 23 (11-11-46) biến mất.

Nam Dân là người cuối cùng, tiếp tục làm thơ từ số 24 (18-11-46) đến số 28 (16-12-46), có ba bài của Nam Dân: Chiêu hồn nghiã sĩ, Thu cảm, Cách mạng hành, và một bài của Thanh Trúc: Tiếng hát chinh phu[35].

Điểm kỳ lạ ở các nhà thơ này là họ nối tiếp nhau, như thể một người biến mất thì người khác lên thay. Nhưng làm thơ có dễ thế đâu, vậy mà họ làm được, làm hay. Thơ họ cùng một chủ đề: tịch mịch, sa trường, hồn tử sĩ, biên ải… Sau cùng, chỉ một mình Phù Bình Thảo còn ở lại với Khái Hưng đến ngày cuối, những nhà thơ kia đều đã ra đi. Rồi họ có gặp lại nhau chăng?

Những tác phẩm cuối cùng của Khái Hưng

Khái Hưng không bao giờ ngừng viết, dù trong những lúc khó khăn như thời kỳ ở trại Lạc Quần. Và ở đâu cũng có những người quý mến ông, dù họ là công an có nhiệm vụ quản thúc, như lời Mai Ngọc Liệu, “anh Thân” đã cung cấp giấy trắng cho Khái Hưng ra bờ sông Ninh Cơ viết. Không biết những tờ văn ấy, giờ lưu lạc nơi nào?

Nhà văn Nguyễn Thạch Kiên (1926-2008) “là người có cái may mắn duy nhất còn giữ được một số văn phẩm cuối cùng của Khái Hưng mà V.N.Q.D.Đ. Thị Bộ Nội đã ưi ái gửi trao[36] ông đã cho in lại ở Sài Gòn thành tập truyện ngắn Lời nguyền, gồm truyện Tây xông nhà, đăng trên báo Việt Nam và các tác phẩm in trên báo Chính Nghiã. Sau này, khi sang Mỹ, ông tập hợp tất cả với Hồn bướm mơ tiên, trong tập sách Khái Hưng, Kỷ vật đầu tay và cuối cùng (trừ kịch Đoàn kết, sau này được Viên Linh in trên Khởi Hành). Ông cho biết:

Chúng tôi có một may mắn không ngờ là ngay từ năm 1945-1946, và sau ngày toàn quốc khói lửa, tôi vẫn còn được “quản lý” một số tài liệu quý, có cả bài Khái Hưng viết. Tôi còn được biết thêm là ngay từ hồi đó, Khái Hưng đã dịch xong toàn bộ cuốn Liêu Trai Chí Dị của Bồ Tùng Linhđã cho một thân hữu mượn.” [37]

Xem thêm:   Chơi drone, flycams coi chừng... ăn phạt!

Theo lời Mai Ngọc Liệu, trong trại Lạc Quần, Khái Hưng thường kể chuyện Liêu trai. Và tinh thần liêu trai phảng phất ở một số truyện ngắn sau này, chứng tỏ trong thời điểm bị giam ở Vụ Bản hay bị quản thúc ở Hà Nội, những năm 1942-44, Khái Hưng không chỉ viết truyện cho thiếu nhi mà ông còn dịch toàn bộ Liêu Trai Chí Dị. Nguyễn Thạch Kiên không muốn nói rõ tên người giữ bộ sách quý này, nhưng ông biết là ai.

Vậy, những tác phẩm sau cùng đã in, của Khái Hưng, gồm có:

– Trên báo Việt Nam: truyện ngắn Tây xông nhà [38]

– Trên báo Chính Nghiã: bốn vở kịch và tám truyện ngắn:

Kịch: Đoàn Kết! Dưới ánh trăng, Câu chuyện văn chương và Khúc tiêu ai oán.

Truyện ngắn: Người anh hùng, Nhung, Lời nguyền, Bóng giai nhân, Khói hương, Quan Công sứ, Hổ, và Tiếng người xa [39].

Trung thành với nghệ thuật của mình, Khái Hưng, trong chín truyện ngắn sau cùng: Tây xông nhà, Người anh hùng, Nhung, Lời nguyền, Bóng giai nhân, Khói hương, Quan Công sứ, HổTiếng người xa, vẫn giữ nguyên phong độ ngày trước. Tây xông nhà, viết về thời kỳ 1930, cách mạng Nguyễn Thái Học. Tám truyện ngắn sau viết về thời kỳ Vụ Bản. Khái Hưng luôn luôn ghi lại dấu ấn những nơi mình đã sống, những hoàn cảnh mình đã trải qua. Vụ Bản là nơi ông để lại dấu ấn sau cùng, qua những chân dung nhân vật, người Việt, người Mường, người Pháp, những cảnh núi đồi hùng vĩ bí mật, không khí liêu trai, và lối sống, tín ngưỡng Mường. Ngòi bút đoản thiên của ông, từ tác phẩm đầu tiên, năm 1932, đã mở đường cho truyện ngắn hiện đại Việt Nam, bây giờ ông đi đoạn hậu, trong giai đoạn khó khăn, mà sáng tác thuần tuý đã bị bỏ rơi để nhường chỗ cho tuyên truyền phi nghệ thuật. Ông còn muốn tạo ngọn gió mới Thời phong, khi Tự Lực văn đoàn đã tan rã.

Những truyện ngắn cuối cùng của ông, một số rất nhẹ nhàng, viết tự nhiên như ăn và thở, như Bóng giai nhân, người đẹp ở sàn lim số 18 đã làm “rung động” bao nhiêu “anh em cách mạng” Hoả lò: “Sàn lim mười tám” là một người bé nhỏ, xinh xắn; đôi mắt sáng với cặp môi tươi trong khuôn mặt trái soan, nước da nhỏ mịn tuy rám nắng…” Nhưng không phải vì sắc đẹp của nàng mà “anh em” chạy quanh sàn lim mười tám, mà vì đôi hàng “tiểu sử”: nàng đã từng trốn thoát, những ba lần, lần nào cũng can trường tiếp tục, thay hình đổi dạng, khi là nữ sinh, khi giả trai, khi nhuộm răng cánh kiến… Giai nhân chỉ ở lại sàn lim có một đêm, sáng sau nàng bị cùm tay dẫn đi nơi khác, nhưng bóng nàng đã thoáng qua nơi giam cầm như chút ánh nắng tươi hé ra giữa khoảng trời mây đen đặc”. Khái Hưng chính là ánh nắng ấy, trong đêm đen trời Việt.

Quan công sứ, một hình ảnh đặc biệt của Vụ Bản: là một Cụ lớn tây lai có cái thú kiểm duyệt thư tù, đọc xong ghi vào chữ “lu”[đã duyệt], dưới ký tên và chức vụ “Công sứ nước Pháp tại Hoà Bình”, đôi khi kèm theo một lời bình rất hóm. Tù nhân quen được đọc những lời phê hóm hỉnh của công sứ, khi ông ta bị đổi đi chỗ khác, người tù như thiếu vắng một người bạn, một nguồn vui. Con ma thuốc phiện trong truyện Khói hương là một thứ ma hoạt kê, thần kỳ, liêu trai kiểu Mường, lạ lùng, hài hước và thâm thúy. Tiếng người xa truyện người vợ, chồng làm cách mệnh phải trốn đi xa, một hôm nàng nghe đài Cựu Kim Sơn, giờ phát thanh tiếng Việt, thấy giọng chàng. Nàng bán tất cả nữ trang, mua cái máy bắt sóng, để nghe tiếng nói mà nàng chắc chắn của chồng. Nàng sống một đời khác, từ đó, không cô đơn, cô độc.

Tây xông nhà là một tự truyện, viết về một kỷ niệm lạ lùng của tác giả: ông được Tây đến “xông nhà” tối mùng một Tết Canh Ngọ, tức là tối 30-1-1930. Mà như ta đã biết, Việt Nam Quốc Dân Đảng quyết định Tổng khởi nghiã ngày 10-2-1930. Người Tây ấy là một người Áo, can án tử hình trốn sang Pháp, đăng lính Lê dương. Rồi hắn sang ta, làm quan Đại, tức Quan Đại Lý Ninh Giang, tiếng Pháp là Monsieur le Délégué, đích thực hắn là Xếp Pô-Lít, nhưng ai vô phúc không biết, gọi thẳng chức thật của hắn thì phải biết. Hắn đến nhà Khái Hưng truy lùng tên C. trưởng ban ám sát của cái đảng mà chủ nhà “rất quen thuộc”. Chỉ với cốt truyện nhẹ nhàng như thế, nhưng Khái Hưng đã tạo nên bầu không khi nghẹt thở, khi một người dân, dù là con quan tổng đốc, dù không thiếu lời lẽ cứng cỏi để ứng đáp với Tây, vẫn bị một kẻ cựu sát nhân, cùng quê với Hitler, đến khám nhà, không trát tòa. Ở đây Khái Hưng dùng thứ ngôn ngữ nhiều tầng mà ông sở trường, để tố cáo tội ác: chỉ một chữ Áo đủ gây cảm giác Hitler, hai chữ quan Đại, đủ tỏ mật độ giao lưu giữa thực dân và phong kiến. Nếu ở Hồn bướm mơ tiên, Khái Hưng dùng thứ ngôn ngữ tẩm văn hoá thì ở Tây xông nhà, ông dùng thứ ngôn ngữ ẩn ngụ tội ác và độc tài.

Xem thêm:   Dân chơi... chó kiểng

Lời nguyền là một kiệt tác, kết hợp ba yếu tố: thực dân, phong kiến, liêu trai, trong một lời nguyền thuần Việt. Đầu tiên hết, Khái Hưng vào truyện bằng sự ngạo nghễ, ngự trị trên đỉnh đồi:

Đồ sộ, chót vót trên đỉnh đồi cao, đồn Vụ Bản hách dịch nhìn xuống con đường đá nối Nho Quan với Hoà Bình. Trên một quả đồi đối diện và thấp hơn, khu trại giam chính trị phạm náu mình trong hàng dậu đầy nứa nhọn và hai hàng cọc chăng giây thép gai.

Rồi: “Xa xa về phiá tây nam, dẫy núi Hoành Sơn sừng sững như một bức thành kiên cố đứng ngăn. Buổi sáng nó chìm biến vào trong sương dầy trắng đục, buổi chiều nó lờ mờ trong sương lam bốc lên như khói. Buổi trưa nó lấp lánh ném ánh bạc của những cây ngân diệp  mọc bên sườn”.

Hai khung cảnh sừng sững đối đầu: Một bên là đồi Vụ Bản ngạo nghễ châm đầy cọc nứa và dây thép gai. Một bên là dãy Hoành Sơn, huyền ảo, bí mật, ngăn chặn. Tất cả nằm trong không gian Mường, u uất, thần bí, liên hệ tới một lời nguyền.

Bây giờ đến con người: Đồn Vụ Bản được “kiến thiết theo chương trình thống trị”, có một vị quản đồn là ông Tăng trấn giữ. Ông quản Tăng ăn như Tây, ở như Tây, tay cẩm roi da quay tít như Tây, có chó Tây kếch sù hầu cận. Lên phố ông mặc trào phục với hàng huy chương rực rỡ trên ngực. Ông quản trở thành quan Quản, rồi chẳng bao lâu, Cụ Lớn. Cụ Lớn hét ra lửa, thủa mới về nhậm chức mới hơn hai tháng đã cưới cô nàng hầu người Kinh con một thương gia giầu có trên phố chợ, rồi sáu tháng sau, kén luôn một lúc hai cô nàng hầu người Mường.

Bỗng một hôm, có một cụ già và một thiếu phụ quê mùa, hỏi đường qua sông, lên đồn, xin gặp ông quản. Bị lính chặn lại, hạch hỏi: bà con thế nào với quan. Ông cụ lúng túng, người đàn bà đỡ lời:

Thưa ông cụ… sinh ra quan. Còn tôi vợ… quan”.

Đúng lúc ấy, cụ lớn đứng trong sân ngó ra, thấy hai cha con người nhà quê, cụ lớn quát:

– Đuổi cổ chúng nó ra!

Người lính không dám phân trần. Người cha, người vợ, chỉ kịp kêu lên hai tiếng:Tăng! Anh Tăng! Thì bị đẩy ra ngoài, cổng đóng sập lại.

Ông già lỡ khoe với người lái đò đưa mình qua sông là bố thằng Tăng, ông không thể trở lại đường cũ, ông chọn lối khác với một lời nguyền

“Từ đó lời nguyền vẫn thiêng. Những người cha, người vợ lên đây thăm con, thăm chồng, khi trở về đều ốm nặng rồi chết“.

Chưa có lời nguyền nào độc địa như thế. Bởi đây không chỉ là lời nguyền của người cha mất con, mà của cả một dân tộc bị mất linh hồn. Cái chết trầm mình của ông già với lời thề độc bên sông, có nghiã là từ nay đứa nào có con theo Tây, thì sẽ chết như thế, và từ trước đến nay, Khái Hưng cũng chưa viết truyện ngắn nào đạt độ kinh hoàng và bi đát đến thế.

Kịch Đoàn Kết

Tháng 6 năm 1946, cuộc nội chiến bùng nổ giữa Việt Quốc và Việt Minh, Khái Hưng chủ trương hòa giải dân tộc ngay từ những số Chính Nghiã đầu tiên, ông viết hài kịch Đoàn kết, in trên Chính Nghiã từ số 2, phác họa tình cảnh hài hước của Hà Nội, trong cuộc đảng tranh, xuyên qua một gia đình, anh em một nhà chia làm hai phe: một bên theo Việt Minh một bên theo Quốc Dân Đảng, coi nhau như quân thù, gọi nhau là Việt gian, cả ngày hội hè, khẩu hiệu, xuống đường lùng bắt kẻ địch. Tất cả Hà Nội rần rần trong lời hô, tiếng súng, bắn nhau, trước khi bắn quân thù. Hai chữ đoàn kết, mà cả hai bên đưa ra làm khẩu hiệu, không còn giá trị gì, như lời Minh nói với Chính: «Đoàn kết! Đoàn kết! Người ta chơi chữ đấy mà anh không hiểu. Đoàn kết nghiã là kết đoàn, kết đoàn để bắt lẫn nhau

Hai chữ Việt gian trở thành miệng lưỡi, ai cũng có thể là Việt gian, như lời Chính: “Không là Việt gian thì sao cùng là người Việt Nam lại đi bắn nhau. Giết lẫn nhau?

Chính: Họ ghét nhau như quân thù. Minh: Hơn quân thù chứ! Chính: Nhưng có khi họ cùng trong một họ, cùng một gia đìnhMinh: Ít ra họ cũng ở trong cùng một quốc gia, cùng một dân tộc.

Khái Hưng mô tả sự loạn thần của một xã hội lấy căm thù làm lẽ sống.

Trong không khí ấy, với đời sống ấy, không thể xây dựng được một cái gì: Thơ, văn, tiểu thuyết, hết thời rồi chỉ có chủ nghiã là bán chạy và cái dễ bán nhất và được coi là «trí thức» nhất, chính là «chủ nghiã». Khái Hưng trình diện bộ mặt trái của Hà Thành 1946, không son phấn, một Hà Thành rởm, với những kẻ tự cho mình yêu nước hơn người, yêu nước theo phong trào, theo chủ nghiã, yêu nước theo mốt mới.

Tiếp đó trên Chính Nghiã số 9 (29-7-46) Khái Hưng cho in Dưới ánh trăng, bi kịch một hồi, giữa hai thanh niên, Khoa: Quốc Dân Quân (Quốc dân Đảng) 30 tuổi và Thức, Vệ Quốc Quân (Việt Minh), 20 tuổi; họ gặp nhau quá muộn trên chiến trường, trước khi chết.

Xem thêm:   Đời phu bốc vác

Khúc tiêu ai oán

Tiếng tiêu ai oán, là tác phẩm lớn sau cùng của Khái Hưng, dựng lại chuyện Ngũ Tử Tư: vì can trường theo đuổi lý tưởng cao đẹp báo thù cha, mà được vinh danh muôn thủa.

Thời Đông Chu (hồi thứ 71 đến 76 trong truyện Đông Chu liệt quốc), Sở Bình Vương hoang dâm vô độ, bị thái sư Ngũ Sa ngăn cản, liền bắt giam thái sư và gài bẫy cho hai con là Ngũ Tử Tư tức Ngũ Viên và và anh là Ngũ Thượng về triều để giết luôn cả ba. Chỉ Ngũ Thượng chịu về chết với cha. Ngũ Tử Tư trốn thoát sang Ngô, phò Công Tử Quang lên ngôi là Ngô Vương Hạp Lư và dẫn quân Ngô về dày xéo nước Sở, báo thù cho cha và anh. Trên đường đi Ngũ Tử Tư được nhiều ân nhân cứu độ, nhưng y đã lấy sự nghi ngờ buộc họ tự tử để giữ tròn bí mật.

Chí báo thù của Ngũ Tử Tư được Tư Mã Thiên và cả thiên hạ cổ kim hết sức ca ngợi.

Nhưng Khái Hưng đưa ra một cái nhìn khác hẳn.

Trong Khúc tiêu ai oán Khái Hưng trình bày hình thức sáng tác tuyệt mới, có tính cách đa âm, đa nghiã, qua những «lời bàn» khác hẳn quan điểm chính thống của Tư Mã Thiên và cả loài người. Đó là những hành động và lời nói của Đông Cao Công, của ngư phủ, của người con gái giặt sa, của Sở Bình Vương, của Ngũ Thượng, của Ngũ Sa và của Trịnh Nữ. Bảy «lời bình» khác nhau, về chuyện Ngũ Tử Tư, qua hành động và quan niệm về chữ nhân và lòng ái quốc. Một cái nhìn đa diện về chân dung người anh hùng biến y trở thành kẻ vô nhân, phản quốc.

Khái Hưng lột trần chính nghiã của hai chữ «báo thù»: để thực hiện giấc mộng báo thù cha của mình, Ngũ Tử Tư đã trải qua bao lần sát nhân, phản bội?

Kịch Tiếng tiêu ai oán ra đời cuối năm 46 trong hoàn cảnh nhiễu nhương toàn diện, trong cuộc đảng tranh một mất một còn, hai bên đều lấy «căm thù» làm chính nghiã. Tác phẩm là chúc thư của Khái Hưng, chúc thư rỏ máu, nhắn nhủ dân tộc từ nay phải chôn vùi hai chữ căm thù./. (Hết)

Thụy Khuê (2021)

[31] Ký Con hiện thân của Kỷ luật đảng Một bài thơ của đồng chí Song Khê (Xứ Nhu), số 1 (20-5-46). Phạm Hồng Thái và Tâm Tâm Xã, số 2 (27-5-46) và số 3 (3-6-46). Cụ Cần số 4 (10-6-46) và số 5 (17-6-46). Hồ Văn Mịch số 6 (24-6-46) và số 7 (1-7-46), Thơ Mộng Tiên, số 7 (1-7-46). Phó Đức Chính, số 8 (8-7-46); Trần  Quang Riệu số 9 (29-7-46) và số 10 (5-8-46); Bà Chánh Toại, số 11(12-8-46), Bà Ký Tường, số 12 (19-8-46): Nguyễn V. Nho, số 13 (26-8-46); Hoàng Văn Tùng và Nguyễn Văn Viên, số 14 (2-9-46), Nguyễn Bá Tâm Số 15 (9-9-46): Lê Hữu Cảnh, Số 16 (16-9-46) và số 17 (23-9-46); Tô Thúc Dị, số 18 (30-9-46); Hải Kình số 19 (7-10-46), Ngô Hải Hoàng, số 20 (21-10-46); Nguyễn V. Viển. ký B, số 21 (28-10-46): Đội Lãng, ký B. số 22 (4-11-46) Cụ Mai, ký B. số 23(11-11-46) Cao Thắng, ký R, số 24 (18-11-46) Thủ Khoa Nghiã, số 25 25-11-46), Phạm Văn Nghị, ký B, số 28 (16-12-46). Những bài từ số 1 (Ký Con) đến số 20 (Ngô Hải Hoàng), ký T, tức Tống. Từ số 21 (Nguyễn V.Viển) đến số 28 (Phạm Văn Nghị), ký R rồi B, có thể là người khác.

[32] Thơ Phù Bình Thảo trên Chính Nghiã: Tịch mịch, số 1 (20-5-46), Tử sĩ ca, số 5 (17-6-46), Bằng hữu ca -Tặng Đỗ Tốn, số 9 (29-7-46) và Thăm viếng, số 22 (4-11-46).

[33] Thơ Vũ Hoằng trên Chính Nghiã: Qua bãi chiến trường, số 3 (3-6-46): Đứng dậy, số 4 (10-6-46) Bạn có thấy! số 11(12-8-46) và Bạch Đằng, số 14 (2-9-46).

[34] Thơ Phàm Cang trên Chính Nghiã: Tối bãi điêu tàn, số 17 (23-9-46), Quán cổ bên đường,  số 20 (21-10-46), Vườn xưa, số 21 (28-10-46), Rõi miền biên ải, số 23(11-11-46).

[35] Thơ Nam Dân và Thanh Trúc: Chiêu hồn nghiã sĩ của Nam Dân, số 24 (18-11-46), Thu cảm của Nam Dân và Tiếng hát chinh phu, của Thanh Trúc, số 27 (9-12-46), Cách mạng hành của Nam Dân, số 28 (16-12-46).

[36] Kỷ vật đầu tay và cuối cùng, tập 2, trang 694.

[37] Kỷ vật đầu tay và cuối cùng, tập 2, trang 552.

[38] Tây xông nhà, Việt Nam số 64 Tết, 30-1-46.

[39] Tác phẩm của Khái Hưng được in theo thứ tự sau đây trên Chính Nghiã: Đoàn Kết! kịch vui, số 2 (27-5-46), số 3 (3-6), số 5 (17-6), số 6 (24-6), số 7 (1-7) và số 8 (8-7-46). Dưới ánh trăng, bi kịch, số 9 (29-7-46) và số 10 (5-8-46). Các truyện ngắn: Người anh hùng, số 11(12-8-46), Nhung, số 12 (19-8-46): Lời nguyền, số 13 (26-8-46): Bóng giai nhân, số 14 (2-9-46), Khói hương, số 15 (9-9-46), Quan Công sứ, số 16 (16-9-46); Hổ, số 18 (30-9-46), Câu chuyện văn chương, kịch, số 19 (7-10-46), truyện ngắn Tiếng người xa, số 20 (21-10-46); Kịch Khúc tiêu ai oán, số 21 (28-10), số 22 (4-11), Số 24 (18-11), Số 25 (25-11), Số 26 (2-12), số 28 (16-12-46).