Chỉ Số Thông Minh hay “Intelligenz-Quotient”, viết tắt là IQ, do nhà Tâm Lý William Stern đặt tên. IQ là đề tài khá phức tạp vì bị nhiều người chê bai nhưng vẫn đang được sử dụng để đo lường mức hiểu biết của trẻ em tại trường học.
Bức tranh IQ nhiều màu lem luốc vì mới đây Tối Cao Pháp Viện vừa phán quyết là IQ không được dùng làm điều kiện duy nhất để thẩm định mức hiểu biết của tội phạm. Dưới mức thang IQ định sẵn, tội phạm được xem là không đủ trí khôn, thiểu năng, để xét đoán hành vi nên [sẽ] thoát án tử hình (theo Tu Chính Án thứ Tám). Nói rõ hơn là phán quyết của Tối Cao Pháp Viện cho phép tòa án sử dụng các phương cách thẩm định khác ngoài IQ để xét đoán mức hiểu biết của tội phạm.
Nhưng bản tin gây tranh luận nhiều nhất là đề mục “Reverse Flynn Effect”. Thoạt tiên, hiệu ứng Flynn (Flynn Effect) đến từ các tài liệu nghiên cứu về trí thông minh của ông James R. Flynn. Ông ấy tường trình rằng IQ của người thế giới gia tăng khoảng ba điểm mỗi năm nhờ môi trường sống thoải mái, ăn uống đủ chất dinh dưỡng, sức khỏe được chăm sóc, và môi trường giáo dục rộng rãi hơn nên con người thăng tiến (hiểu biết nhiều hơn). Ngược lại, từ những năm 90 của thế kỷ trước, bài tường trình từ các quốc gia khá giả như Hoa Kỳ, Na Uy, Đan Mạch, Anh và Úc đã công bố về sự “thoái lui” IQ của cư dân họ, hiệu ứng “The Reverse Flynn Effect” hay Negative Flynn Effect.
Các nhà giáo dục đã la lối về sự thoái lui IQ của thế hệ Z so với cha anh. Họ cho rằng “kỹ thuật số” là thủ phạm của sự suy thoái [của trí óc] ấy. Người trẻ tiêu xài nhiều thời giờ trên liên mạng, khó tập trung lâu dài và “đẩy việc” cho các thảo trình AI thay vì tự tìm kiếm dữ kiện, suy nghĩ rồi đi đến kết luận.
Những tác giả khác lại cho rằng người trẻ không kém thông minh (so với cha anh) mà do Chỉ Số Thông Minh không biết đo lường mức nhận biết [mới] của trẻ em; khi chơi video và sử dụng kỹ thuật số 3D, trí óc người trẻ phát huy theo chiều hướng khác, chiều hướng mà IQ không biết, chưa biết đo lượng.
Tin không vui về AI và trí tuệ đến từ các chuyên viên tại Carnegie Mellon và UCLA: Khi dùng AI khoảng 10-15 phút thì trí tuệ con người bị sút giảm. Dùng AI, ta tính toán và đọc sách báo rất nhanh nhưng khi hết dùng AI, thì mức tính toán tuột dốc, khó lòng tập trung đủ để đọc một trang giấy! Các thí nghiệm này cho thấy sự khác biệt giữa người dùng và không dùng AI. Giản dị là AI khiến ta lười và bỏ qua cách suy luận, dùng máy móc thay cho đầu óc!
Việc so sánh IQ của AI và con người khiến phe ta hết hồn, trong khi con em lúng túng thì cỗ máy AI như Large Language Models (LLMs) cho Chỉ Số Thông Minh cỡ 130 – 140. Tại sao? Người “chế” ra LLMs có Chỉ Số Thông Minh cỡ 140 điểm hay vì lý do nào khác? Câu trả lời là AI nhận ra các kiểu mẫu và ghi nhớ nhiều hơn, nhanh hơn trí óc con người nên AI dễ dàng lựa chọn câu trả lời và “thắng”! Tất nhiên, trí thông minh không chỉ tùy thuộc vào trí nhớ mà còn cần những yếu tố khác.
Câu chuyện của một cô bé ba tuổi, Alexis Martin, đọc sách ở trình độ lớp Năm, đã tự học tiếng Tây Ban Nha qua iPad, được xem là thần đồng. Năm ấy, Alexis là hội viên bé bỏng nhất của nhóm Thiên Tài Huê Kỳ, American Mensa, với Chỉ Số Thông Minh là 160!
Nhóm Thiên Tài Huê Kỳ gồm 2% những người có Chỉ Số Thông Minh cao nhất (Chỉ Số Thông Minh của một người trung bình là 100 +/- 15 điểm); khoảng 55 ngàn người Huê Kỳ là hội viên của nhóm này.
Người cha kể rằng ngay trong tuổi 12 – 18 tháng, Alexis đã có thể kể lại câu chuyện nghe đêm hôm trước, và kể lại một cách vô cùng chính xác các chi tiết trong câu chuyện.
Trí nhớ kia giúp thần đồng học hỏi rất nhanh và rất nhiều khiến bá tánh kinh ngạc vì không mấy người có khả năng ấy. Tuy nhiên rất nhiều câu hỏi nảy sinh từ hiện tượng học nhanh nhớ nhiều của thần đồng; Alexis có thể tiếp tục là thiên tài cho đến hết đời hay một lúc nào đó khả năng thiên bẩm kia chấm dứt? Nếu một người lớn không thể học ngoại ngữ nhanh như như cô bé kia thì có nên bỏ cuộc không vì Chỉ Số Thông Minh họ… thấp quá?
Chỉ Số Thông Minh thực sự biểu hiện những gì?
Chỉ Số Thông Minh là một chỉ số đo lường mức “fluid and crystallized intelligence”, danh từ chuyên môn của ngành Tâm Lý Học dùng để chỉ các “loại” thông minh. Nói giản dị, Chỉ Số Thông Minh đo khả năng phân giải và khả năng “tháo gỡ” (giải quyết, sắp xếp) các vấn đề khó khăn.
Đo lường nhiều khả năng như thế nên ta cũng có nhiều phương pháp khác nhau. Tựu trung, các phương pháp này thẩm định khả năng quan sát, tính toán, sử dụng ngôn ngữ cũng như trí nhớ và khả năng thu nhận và phân tích nhanh chóng các sự kiện thu nhận.
Một chuyên viên tâm lý đưa ra một số bài thí nghiệm, kết quả từ đó được thu góp và tính toán thành một chỉ số: Chỉ Số Thông Minh.
Nói chung, Chỉ Số Thông Minh chỉ là kết quả của một bài trắc nghiệm của người thi so với những người đồng tuổi [đồng trang lứa] khác. Các con số ấy được gom chung và trình bày theo đồ hình quả chuông úp ngược (bell curve). Chỉ Số Thông Minh trung bình là 100; những con số nằm bên trái hoặc bên phải của quả chuông là kết quả của những người “đặc biệt”, quá nhanh hoặc quá chậm. Kết quả của thần đồng Alexis là con số nằm bên phải xa nhất của quả chuông (so với các đứa trẻ khác đồng trang lứa).
Theo bà Lisa Van Gemert, một chuyên viên giáo dục của Mensa, người có Chỉ Số Thông Minh cao là người có thể thu nhận, phân tích và giải quyết một vấn đề phức tạp hợp lý và nhanh chóng hơn một người trung bình.
Tuy nhiên, với đứa trẻ như Alexis, kết quả của bài trắc nghiệm chỉ là biểu hiện của việc đo lường trong “một thoáng”, snap shot, vài giây phút của một khoảng thời gian. Trẻ em thay đổi từng ngày, tùy lúc và tùy người ra bài trắc nghiệm mà chúng trả lời câu hỏi hay lựa chọn câu trả lời. Nôm na là kết quả có thể thay đổi tùy thuộc vào nhiều yếu tố chung quanh. Do đó, Chỉ Số Thông Minh là một con số có giá trị tương đối.
Một cách tổng quát, khi so sánh mức Chỉ Số Thông Minh của những người sinh sống trong xã hội Hoa Kỳ: 1) Dựa trên học vấn; 2) Dựa trên công việc làm; và 3) Dựa trên khả năng làm việc, các chuyên viên tâm lý đã tổng kết như sau:
Mức thành đạt về học vấn
– Tiến Sĩ (MD, JD, & PhD): Chỉ Số Thông Minh khoảng 125+
– Tốt nghiệp cử nhân: Chỉ Số Thông Minh khoảng 104-112
– Tốt nghiệp trường cộng đồng (1-3 năm sau trung học): Chỉ Số Thông Minh khoảng 105-110
– Trung học lớp 9-11: Chỉ Số Thông Minh khoảng 90-95
– Trung học đến lớp 8: Chỉ Số Thông Minh khoảng 90
– Học lớp 5-7: Chỉ Số Thông Minh khoảng 85
Dựa trên công việc làm
– Công việc chuyên môn & kỹ thuật: Chỉ Số Thông Minh trung bình là 112
– Điều hành và công việc hành chánh: Chỉ Số Thông Minh trung bình 104
– Thư ký, bán hàng, thợ chuyên môn: Chỉ Số Thông Minh trung bình 101
– Nhân công không chuyên môn (phụ việc, làm việc nhà): Chỉ Số Thông Minh trung bình 92
Công việc có thể làm
– Hái hoa quả, sửa chữa vật dụng: Chỉ Số Thông Minh trung bình khoảng 60
– Làm việc lặt vặt trong nhà: Chỉ Số Thông Minh trung bình khoảng 50
Bản tổng kết kể trên cho thấy Chỉ Số Thông Minh không khác biệt cho lắm giữa các nhóm “học vấn” cũng như “công việc”: Những người có Chỉ Số Thông Minh cao hiện diện trong mọi mức học vấn và mọi loại công việc làm. Sự khác biệt chỉ rõ rệt trong nhóm Chỉ Số Thông Minh thấp, với rất hiếm những người tốt nghiệp đại học hoặc làm công việc chuyên môn có Chỉ Số Thông Minh dưới 90 điểm.
Như thế Chỉ Số Thông Minh nói lên điều gì về khả năng của con người?
Các chuyên gia tâm lý đã khẳng định rằng Chỉ Số Thông Minh không đo lường được các khả năng thực tiễn của con người như mức hiểu biết, làm thế nào để khiến sự việc vận hành. Chỉ Số Thông Minh chẳng đo mức sáng tạo cũng không lường được độ tò mò thích tìm hiểu của con người. Và đây là các yếu tố thiết yếu cho một bộ óc có khả năng phát minh, sáng chế.
Ngoài sự thông minh thực tiễn, Chỉ Số Thông Minh cũng không đo lường mức trưởng thành của tâm thần. Như thần đồng 5 tuổi có thể đọc vanh vách và “hiểu” các bài viết trong tạp chí The Economist nhưng đứa nhỏ kia chưa sẵn sàng để thu nhận và giải quyết các sự việc có tính cách xã hội như nạn nhân chiến tranh hay tội phạm bị xử tử.
Đại khái là ta chỉ nên nhìn ngắm một Chỉ Số Thông Minh cao như một bộ óc lớn, một trong các cá biệt của con người, mắt xanh, tóc đen… Chỉ Số Thông Minh cũng chỉ một phần của con người ấy như mọi cá biệt kể trên.
Chỉ Số Thông Minh tùy thuộc vào nhiều yếu tố, hoàn cảnh nghèo khó, mức dinh dưỡng, mức áp lực trong đời sống, độ quen thuộc với các bài trắc nghiệm. Di tính ảnh hưởng đến Chỉ Số Thông Minh, chỉ số này cho thấy sự cao thấp giữa nhiều nhóm người: Nhóm Ashkenazi Jews đứng đầu, kế đến là dân Đông Á, người da trắng và người da đen.
Kết quả thí nghiệm của Tiến Sĩ Richard Nisbett, Đại Học Michigan, đã chứng minh rằng trẻ em từ gia đình khốn khó khi được nuôi dưỡng trong hoàn cảnh sống khá giả, Chỉ Số Thông Minh gia tăng đến 15-20 điểm. Nói một cách khác, môi trường sinh sống ảnh hưởng đến Chỉ Số Thông Minh rất nhiều.
Trong một thí nghiệm khác, cuộc trắc nghiệm được thực hiện trong 33 đứa trẻ trong tuổi dậy thì; sau 4 năm, Chỉ Số Thông Minh của chúng thay đổi khoảng 20 điểm. Các thay đổi này tương ứng với các thay đổi về cấu trúc và kỹ năng tại não bộ của các trẻ em này. Tạm hiểu là Chỉ Số Thông Minh thay đổi theo thời gian.
Ngoài ra, thần đồng không mấy khi trở thành thiên tài, khi khôn lớn chúng “lẫn” vào đám đông, không nổi bật như trước. Lý do? Ta dễ dàng nhận ra một đứa trẻ thông minh khác thường khi chúng còn bé, như Alexis so với các đứa trẻ 3 tuổi khác. Nhưng làm thế nào để so sánh mức thông minh của những người trong tuổi 40, 50? Dựa trên học vấn của họ? Kinh nghiệm sống? Khả năng lắp ráp một vật dụng nhiều mảnh mua từ cửa hàng tạp hóa? Tất nhiên là khó khăn hơn nhiều, và các yếu tố thiết yếu để so sánh cũng không dễ dàng nhận diện.
So sánh với ông bà cha mẹ, Chỉ Số Thông Minh của các thế hệ sau xem ra cao hơn Chỉ Số Thông Minh của tiền nhân, Chỉ Số Thông Minh của nhóm trẻ 10 tuổi ngày nay cao hơn Chỉ Số Thông Minh của nhóm trẻ đồng tuổi sinh vào thời 1954; như thế con cháu thông minh hơn tổ phụ?
Thực ra bộ óc con người hôm nay không lớn hơn óc của tổ phụ, Chỉ Số Thông Minh cao chỉ có nghĩa là khả năng suy tính và giải quyết các vấn đề phức tạp nhanh chóng hơn hoặc biết sử dụng khả năng trong các trường hợp giả dụ.
Theo ông James Flynn, chiếc xe thời 1900 được thay đổi vì đường sá tốt hơn và nhờ các kỹ thuật mới mẻ hơn. Đầu óc con người cũng thay đổi như thế. Ta đi từ việc trực diện một thế giới đơn giản, rõ rệt và chỉ cần thẩm định thế giới ấy theo mức lợi ích cho con người đến một thế giới vô cùng phức tạp. Thí dụ? Việc giáo dục đã thay đổi rất lớn. Ta học cách phân loại thế giới, so sánh và xếp chung các loài vật giống nhau hoặc xếp hạng các phương tiện di chuyển. Ta cũng được huấn luyện cách tính toán, suy nghiệm các vấn đề trừu tượng (toán xác suất) cũng như chấp nhận các giả dụ trong khi tiền nhân chỉ giải quyết những sự việc ngay trước mặt!
Công việc làm ngày nay cũng thay đổi khá nhiều. Trong những năm 1900, chỉ khoảng 3% người Huê Kỳ làm công việc được xem là “phức tạp, đòi hỏi đầu óc”; ngày nay, 35% người Huê Kỳ làm các công việc tương tự và do đó, thẩm định, giải đáp các vấn đề phức tạp như các bài trắc nghiệm về Chỉ Số Thông Minh.
Sức khỏe cũng là một yếu tố quan trọng, bệnh truyền nhiễm được tiết giảm nhờ các chương trình chủng ngừa, con người khỏe mạnh hơn nên năng lượng được dùng vào việc học hỏi tìm tòi hơn là chống lại bệnh tât. Do đó, trí óc phát triển mạnh mẽ hơn.
Nói chung, Chỉ Số Thông Minh không đo lường chính xác khả năng học hỏi của học trò, SAT là một loại trắc nghiệm về Chỉ Số Thông Minh, mà điểm trung bình toàn niên khóa (GPA) nói lên rõ ràng hơn khả năng học hỏi của đứa trẻ ấy. Ngoài ra Chỉ Số Thông Minh cao không đoan chắc được sự thành đạt của con người. Tài liệu cho thấy nhiều sinh viên ban Cao Học với Chỉ Số Thông Minh khá cao nhưng không thành công rực rỡ vì thiếu trí tò mò, không thích tìm hiểu, không thể làm việc chung với người chung quanh…
Ngược lại Chỉ Số Thông Minh thấp cũng không ước đoán được sự thất bại trong đời sống; thói quen làm việc cẩn trọng, sự kiên trì trong công việc và lòng tự trọng là các yếu tố cần thiết như sự thông minh cho sự thành đạt. Nếu không có các yếu tố này, Chỉ Số Thông Minh cao chỉ là một sự phí phạm.
Các chuyên viên tâm lý giáo dục đều đồng thuận rằng cha mẹ hãy dùng nhà mình làm môi trường nuôi dưỡng đứa trẻ, từ cơ thể đến tâm thần; nghĩa là tiêu xài nhiều thời giờ với con cái, chuyện trò, chơi trò chơi, và đọc sách… là những cách phát triển tốt đẹp nhất cho các tiềm năng của đứa trẻ.
TLL








