Những biến cố vĩ đại hay các khám phá tối tân đã khiến con người cảm phục rồi thay đổi để thích nghi với những cái “mới”. Sách vở thường nhắc đến các chương trình khám phá vũ trụ, các loại trị liệu tân kỳ giúp con người khắc phục bệnh tật, những phát minh thay đổi đời sống con người … Thế rồi bá tánh họp nhau thẩm định những phát minh, sáng chế ấy và vinh danh “tác giả” cũng như tác phẩm. Các bộ óc phi phàm đã thiết kế và chế tạo những vật dụng nọ. Và ta có khá nhiều tổ chức quốc tế đang làm công việc thẩm định và trao giải thưởng nhìn nhận công sức ấy.

Các kiểu mẫu của mọi ngành kỹ nghệ từ sản phẩm, truyền thông đến kiến trúc đều được thẩm định qua các tổ chức chuyên nghiệp. Nổi tiếng nhất là ba giải thưởng quốc tế về thiết kế:

Red Dot Design Award được xem là giải Oscar của ngành thiết kế và là giải thưởng cao quý nhất của thế giới.

iF Design Award, thành lập năm 1953, là giải thưởng thiết kế “lâu đời” nhất. Đoạt được giải thưởng này là đã thành công nhất về thiết kế và sản xuất.

A’ Design Award là giải thưởng thu hút được sự tranh đua nhiều nhất góp mặt từ hằng cả trăm thể loại về thiết kế.

Các ngành kỹ nghệ cũng có những cuộc “tỉ thí” riêng biệt hằng năm và cũng vinh danh đồng nghiệp giữa những “tay” trong nghề. Điển hình là Pritzker Architecture Prize, một loại “Nobel Prize of Architecture”. Kiến trúc sư đoạt giải qua một quá trình sáng tác nhiều năm hơn là chỉ một đề án, một tác phẩm. Ngành Graphic Design có D&AD Awards và “Black Pencil” là giải thưởng cao quý nhất trong ngành, khi những tác phẩm thiếu điều kiện, ban tổ chức “treo giải” chứ không trao tặng chỉ để phát giải.

Industrial Design Society of America trao giải thưởng IDEA (International Design Excellence Awards). Tổ chức Digital Design trao giải Webby Awards hay “Oscars of the Internet” vinh danh những thiết kế liên mạng, sáng chế nhu liệu (app) và các phát kiến liên quan về kỹ thuật số. Ngành thiết kế nội thất (Interior Design) trao giải Elle Deco International Design Awards (EDIDA)…

Nói chung, Red Dot là giải thưởng lừng lẫy nhất; giải thưởng khó đoạt nhất là D&AD (nhất là the Black Pencil) và giải thưởng dành cho một đời làm việc đóng góp trong ngành kiến trúc là Pritzker Prize.

Mày mò tìm đọc các khám phá đoạt giải thưởng khiến phe ta tâm phục khẩu phục, đầu óc chi mà phi phàm quá đỗi, làm thế nào để những con người kia nghĩ ra những kiểu mẫu mà chế tạo sản phẩm lạ lùng và hữu ích như vậy nhỉ? Món nào cũng hay cũng lạ và cũng đem đến nhiều công ích cho đời sống. Nhưng có một món tầm thường lắm, cũ rích nhưng vẫn tiếp tục… đổi mới và đoạt giải thưởng về thiết kế những hai lần. Đó là con dao bào, peeler, bạn ạ! Nó lỉnh kỉnh, nhỏ bé nhưng hữu dụng lắm lắm, không có con dao bào để gọt vỏ khoai, vỏ táo là ngón tay hậu đậu của Dế Mèn hẳn sẽ bị cắt cứa vài lần nếu không vô cùng cẩn thận!?

“Lịch sử” của dao bào khá mù mờ, chẳng biết tự bao giờ và ai là ông / bà tổ của sản phẩm ấy nhưng sách vở đã ghi chép về sự hiện diện của dao bào từ những năm 1800 của mấy thế kỷ trước. Sớm nhất là bản tác quyền của David Goodell về dao bào [vỏ] táo năm 1860. Bên Âu Châu có “Viennese court peeler”, đăng bạ tác quyền của ông Joseph Denk năm 1891. Rồi dao bào The French Économe (năm 1928) của ông Victor Pouzet, một con dao với kẽ hở trên mặt. Kế tiếp là The Y-Peeler (1947) của ông Alfred Neweczerzal người Thụy Sĩ. Ông này kể chuyện nhiệm vụ bào khoai trong nhà bếp  quân đội; “anh nuôi” đã nảy ra sáng kiến chế tạo sản phẩm này để làm việc nhanh chóng hơn. Dao bào hình [chữ] Y có lưỡi dao nằm ngang, to bản để bào rau củ cỡ lớn như cà tím, và bào theo chiều dài. Không biết dao Y bào …rau muống [ăn bún riêu] có nhanh hơn so với việc chẻ rau lâu lắc? The Jonas Peeler (1953) với lưỡi dao xoay (swivel) xuất phát từ Thụy Điển, đã được sử dụng khắp nơi suốt mấy chục năm nay!

Xem thêm:   Catfishing một hiện tượng xã hội [ảo]

Món dao bào xoay khá phổ thông vì tiện dụng, lưỡi dao xoay vòng theo đường cong của củ khoai và củ cà rốt. Theo chân là dao bào răng cưa, serrated, dễ “túm” lấy vỏ của trái cây mềm như cà chua và đào chín. Và cả những “cỗ” dao bào bằng điện, gọt vỏ khoai trong nháy mắt để nhà bếp của hãng xưởng nhanh lẹ chế biến thức ăn!

Riêng với bếp nhà thì có sự xuất hiện của XO Good Grips vào năm 1990; con dao bào cũng xoay nhưng cán dao bọc cao su thì khá lớn, vừa lòng bàn tay người lớn, lại dễ cầm, nắm. Con dao được chế tạo với mục đích giúp người bị thấp khớp (arthritis) tiếp tục xào nấu! Tạm hiểu là thân dao thì không mấy mới lạ nhưng khái niệm thay đổi cán dao sao cho dễ sử dụng cho cả người bệnh tật thì vô cùng mới mẻ.

Db là vật dụng tầm thường như thế nhưng lại đoạt giải thưởng về thiết kế. Tháng Chín năm 2018, trong số 2,800 món của 17 công ty ứng thí dưới 16 thể loại khác nhau, db “Good Grips peeler” đoạt giải Innovation by Design Awards của tổ chức Fast Company. Dựa trên những tiêu chuẩn như phát kiến phẩm chất cao, hữu dụng; thiết kế theo kiểu mẫu “đẹp mắt” và “giản dị”, bất kể kích thước lớn nhỏ. Các công ty đoạt giải có cùng một mục đích: phát kiến thành hình để vượt qua những trở ngại, khó khăn. Nghĩa là vật dụng, phát kiến được chế tạo với mục đích rõ ràng, không chỉ để … bán kiếm tiền!

Trong 16 thể loại từ những vật dụng điện tử như “Apps & Games”, thời trang & thẩm mỹ… đến các món thí nghiệm (“Experimental”), nổi bật nhất, theo ý riêng, là thể loại kiểu mẫu, vật dụng đoạt giải là con dao bào của hãng OXO “Good Grips peeler”.

Đây là sản phẩm chính trong chuỗi sản phẩm được thiết kế với “mục đích” đặc biệt do nhóm thiết kế Smart Design vẽ kiểu riêng cho công ty OXO International vào năm 1990. Ý niệm ấy rất giản dị: Từ con dao bào sơ sài đến con dao có tay cầm bằng cao su, và chỉ có thế nhưng món hàng lại trở nên vô cùng phổ thông trong một thời gian ngắn. Không chỉ những người bị thấp khớp mới ưa chuộng Swivel Peeler, những người khác cũng cảm thấy dễ sử dụng con dao bào kia. Từ đó, vật dụng này đã khởi đầu cho một cuộc “cách mạng”, thay đổi hoàn toàn các kiểu mẫu về đồ dùng trong nhà bếp.

Xem thêm:   Chichén Itzá

Phổ thông quá xá nên năm 1994, The Swivel Peeler đã được rinh vào viện bảo tàng The Museum of Modern Art (MomA) để trưng bày cho bá tánh nhìn ngắm như một phát minh về kiểu mẫu thực dụng! Mấy chục năm sau, trên Amazon, con dao bào này vẫn được bá tánh trao tặng 4.8 / 5 ngôi sao và vẫn chỉ mang bảng giá dưới 10 mỹ kim! Dù đã được thay đổi chút đỉnh nhưng con dao bào vẫn thực dụng và đẹp mắt nên kiểu mẫu ấy đã đoạt giải thưởng về Kiểu Mẫu Vượt Thời Gian (“Timeless Design”) năm 2018.

Khi được báo chí phỏng vấn, ông Davin Stowell, người thành lập công ty Smart Design đã kể lại một số chi tiết ly kỳ về con dao bào nổi tiếng lẫy lừng kể trên.

Dao bào không xa lạ chi với bá tánh. Ta dùng dao bào để gọt trái cây, rau củ, đó là một con dao với hai lưỡi, bọc quanh là một vỏ kim loại ngăn ngừa sự rủi ro cắt cứa vào tay người dùng. Một vật dụng khá giản dị trong nhà bếp, giản dị như thế, dễ sử dụng như thế nhưng lại là một trở ngại lớn cho những người bị thấp khớp, arthritis; các khớp xương ngón tay họ bị đơ cứng và không thể nắm chặt chuôi dao. Cầm dao không chặt thì khó lòng sử dụng theo ý muốn. Đó là nỗi bực bội, khó chịu của bà Betsy Farber.

Betsy Farber là người từng làm việc nhiều năm trong ngành kiến trúc và thiết kế; bà ấy đã từng giúp đỡ người chồng, Sam Farber, nhiều lần trong việc nhìn ngắm, thử dùng và cho ý kiến về các vật dụng do Copco sản xuất, một công ty chuyên chế tạo các vật dụng nhà bếp. Ông Farber là người thành lập công ty này.

Năm ấy sau khi ông Farber đã về hưu, họ đi nghỉ mát tại Pháp. Một lần nọ khi bà Farber loay hoay gọt táo để làm bánh, Apple Tart, thì các ngón tay thấp khớp đau quá xá, con dao bào trở nên bất khiển dụng, và bà Farber bực bội than phiền với ông chồng… đồ dùng phải có một cái tay cầm khá hơn… Thế rồi bà Farber bắt đầu tự chế tạo cái chuôi dao bằng đất sét. Ý tưởng ‘đồ dùng cần tay cầm tốt hơn’ bắt đầu thành hình; thành hình từ sự thất bại của dụng cụ [kiểu] cũ. Món hàng nào cần sự khéo léo, uyển chuyển của các ngón tay, rẻ tiền cũng như đắt giá, đều khó sử dụng như nhau khi người dùng bị chứng thấp khớp.

Quen biết làm ăn lâu năm với những công ty thiết kế, ông Farber trở lại thương trường qua việc đầu tư vào chương trình thiết kế “tay cầm” cho vật dụng nhà bếp với Smart Design. Họ trải qua nhiều lần thử thách, thay đổi để đạt tiêu chuẩn ‘dễ sử dụng’ cho mọi người nhất là những người bị thấp khớp [như bà vợ ông Sam Farber, người đầu tư nhiều nhất]. Và dĩ nhiên là phải đi kèm với mức “giá phải chăng” để món hàng có thể bán nhanh, bán chạy!

Xem thêm:   Tulum

Ông Stowell kể thêm về phần tài chánh của việc đầu tư kể trên, ông Farber “chung” khoảng 20-30 ngàn mỹ kim trong khi nhóm Smart Design “góp” thời giờ và tài năng. Phần đóng góp của Smart Design lên đến bạc triệu trước khi con dao bào và các vật dụng nhà bếp khác bán chạy và chiếm được thị trường! Nói giản dị là ông Farber với một ý tưởng đặc sắc đã góp “của” và phía ông Stowell đã góp “công”, rất nhiều công lao, chưa kể sự “say mê” từ cả hai phía. Nghĩa là cả hai bên đều dốc lòng dốc sức vào chương trình thiết kế để phát triển một dụng cụ tầm thường nhưng vô cùng hữu ích cho người dùng. Chính sự say mê nọ khiến họ trở thành “bạn”, không chỉ là những “partner” đầu tư để làm ăn chung.

Từ chương trình thiết kế này, họ thành lập một công ty mới, công ty OXO, chuyên sản xuất nhiều món dụng cụ dùng trong nhà bếp. Nôm na là có thể áp dụng cùng ý tưởng, dùng vật liệu tương tự cho cả chục món hàng khác nhau. Để thử mức tiện dụng, công ty OXO đã nhờ những người tình nguyện trong hội Thấp Khớp Hoa Kỳ (the American Arthritis Foundation) thử dùng món hàng mẫu rồi thu góp ý kiến. Sau nhiều lần thử, sửa chữa…, OXO nhận ra rằng món hàng phải đạt các tiêu chuẩn như kích thước vừa đủ, không quá lớn cũng không quá nhỏ; tay cầm không trơn tuột, dễ nắm giữ ngay cả khi tay đang ướt! Thủa ấy, chẳng có món vật dụng nhà bếp nào đáp ứng đủ với các tiêu chuẩn kể trên. Từ kiểu mẫu sang vật liệu, lựa chọn các xưởng sản xuất vật dụng theo kiểu mẫu, và voila, OXO xuất hiện trên thị trường. Các món hàng vừa mắt lại dễ dùng kia bán chạy như tôm tươi, người nọ mách cho người kia chưa kể mua làm quà tặng!

Từ đó, OXO tiếp tục phát triển thị trường qua việc thiết kế các vật dụng khác, tiêu chuẩn vẫn là dễ dùng và vừa mắt.

Kể lại câu chuyện “phiêu lưu” ly kỳ khởi đầu từ con dao bào dẫn đến cả chục vật dụng khác của công ty OXO, ông Stowell kết luận rất gọn rằng tất nhiên chuôi dao tự nó không phải là lý do người mua chọn món hàng của OXO. Dao thì lưỡi phải sắc mới bào, mới gọt hay cắt được, nhưng chuôi dao giúp người dùng sử dụng con dao dễ dàng hơn. Do đó, tiêu chuẩn đầu tiên là ‘món hàng có công dụng gì?’ Có làm được việc không? Sau đó mới đến kiểu mẫu, và kiểu mẫu phải “nói” được công dụng của món hàng ấy.

Riêng Dế Mèn thì phục lăn cái nhìn rất mới của bà Betsy Farber, con dao khó cầm thì khó dùng, ta phải tìm cách sửa chữa, cải biến thế nào để chuôi dao vừa tay mà sử dụng. Bằng không con dao bào kia chỉ xếp xó. Nghĩa là từ “thất bại”, ta đi đến “thành công”, biến món hàng đáng “xếp xó” thành một vật dụng dễ dùng qua các nỗ lực cải biến, thay đổi.

TLL

* Hình ảnh của công ty OXO