Mùa hè bắt đầu ở nơi “Mặt trời rực rỡ” đồng nghĩa với mùa viêm nhiệt; những ngày mặt trời cau có, nóng bể đầu! Con người và cây cỏ khô héo co quắt, không tìm được nơi trú ẩn với chút nước uống thì khó khăn lắm. Nhưng mùa hè lại là lúc sinh sôi nảy nở của côn trùng, tai hại nhất là ruồi [muỗi].

Phe ta băn khoăn quá, chẳng lẽ cứ trốn trong nhà để tránh… ruồi muỗi, những con nhặng vo ve phát ớn vì không biết chúng đã … dừng chân nơi chốn nào, bây giờ mò đến nhà Dế Mèn tìm kiếm thức ăn? Mật ngọt chết ruồi nhưng phe ta không có mật, không có đường, cửa sổ lại đóng kín… Thế thì thế nào nhỉ?

Chuyện ruồi muỗi thì băn khoăn làm vậy nhưng đọc tin tức về ruồi muỗi thì phe ta hơi tò mò vì bảng giá bạc triệu! Bộ Canh Nông Hoa Kỳ vừa loan báo tin tức về giống ruồi ăn thịt “New World screwworm” xuất hiện tại phía nam Texas khi mấy con bê non trong nông trại tại Zavala County, Texas bị nhiễm bệnh. Giống ruồi ấy đã từng bị tiệt diệt nhiều thập niên trước đây; không biết tại sao lại “tái xuất giang hồ” sau nhiều năm vắng bóng?

Mối hiểm nguy từ giống ruồi screwworm đến từ ruồi cái, thích đẻ trứng trong tai mũi miệng hoặc vết thương của động vật. Trứng nở rồi “chui” sâu vào thân thể và thủng thẳng “ăn thịt” con vật. Gia súc cũng như thú cưng nhiễm độc hàng loạt. Tai hại bạc triệu cho nông dân.

Để “chữa trị”, bộ Canh Nông đang xúc tiến cấp kỳ việc “sản xuất” ruồi đực vô sinh để thả vào không gian. Ruồi đực giao phối nhưng ruồi cái đẻ trứng không nở (kiểu nuôi gà [tự] đẻ trứng không thụ tinh). Dần dà rồi dân số ruồi [sẽ] tuột dốc. Cứ như thế mà ta tiêu diệt cái giống hay vo ve kia!?

Một giống ruồi đen, blackfly, mới, Neomomento Picassi, do Đại Học Florida từ Gainesville nhận diện, vừa được đặt tên chính thức. Điểm mặt rồi đặt tên để bá tánh còn trốn tránh, tìm cách giảm thiểu tai hại hoặc diệt trừ. Ruồi đen châm chích động vật, mang theo các mầm bệnh.

Chuyện ruồi [muỗi] thì nhiều lắm, chuyện cũ lẫn chuyện mới. Bài này Dế Mèn chỉ lan man về ruồi. Giống ruồi vừa mới chứng minh cho con người thấy rằng không bay lang thang, kết tình với nhiều đồng loại thì chúng trở nên chậm chạp trì độn. Năm nọ, hai ông Brian Hollis và Tadeusz J. Kawecki, chuyên viên sinh hóa tại Đại Học Lausanne, Thụy Sĩ tường trình kết quả nghiên cứu của họ trên tạp chí the Proceedings of the Royal Society, ấn bản ngày 26 tháng Hai, 2014. Khi ép ruồi chung sống với một bạn tình duy nhất thì con cái, cháu chắt chúng mỗi ngày một chậm lụt, kém cỏi trong việc học hỏi những sinh hoạt thường ngày!

Xem thêm:   DNA chuyện dài

Thế là các chuyên gia bàn tán sôi nổi về kết quả nghiên cứu ấy. Người không chuyên môn thì cười mỉm rồi lắc đầu rằng “chuyện ruồi bu” nhưng các chuyên gia về giáo dục, tìm hiểu việc phát triển của đầu óc, trí thông minh thì vô cùng phấn khởi với nhiều câu hỏi. Trí thông minh phát triển mạnh mẽ nhờ sự pha trộn của nhiều dòng giống? Các yếu tố nào khác ngoài việc “lang thang” làm công việc truyền giống của cha mẹ ảnh hưởng đến tiến triển của não bộ? Não bộ phát triển ra sao với các kinh nghiệm khác nhau?

Cuộc nghiên cứu của hai nhà sinh vật học sử dụng Drosophila melanogaster, một giống ruồi giao phối với nhiều bạn tình khác nhau.

Để tìm bạn tình, ruồi đực tìm kiếm ruồi cái từ những mẩu trái cây đang hư rữa, và uýnh nhau kịch liệt, xua đuổi các con ruồi đực khác để giành “bồ”, sau đó mới chọn một con cái để giao phối.

Con đực vẫy cánh tạo ra âm thanh để rủ rê con cái, “wing song”. Bài vỗ cánh kia có thể kéo dài từ 10 phút đến một tiếng đồng hồ! Ruồi “trinh nữ” thường xuôi lòng dễ dàng khi được rủ rê, mời gọi, nhưng với ruồi cái vừa giao phối xong, bài vỗ cánh kia chẳng có giá trị gì. Nàng làm lơ và từ chối quyết liệt bằng cách đá lui (con đực “ấp” [mount hay vị thế giao phối] bạn tình từ phía sau). Vài ngày sau đó, may ra thì con ruồi cái cự tuyệt hôm trước mới có thể chịu giao phối với ruồi đực. Nôm na là ruồi đực có thể giao phối nhiều lần trong khi ruồi cái chỉ có thể giao phối (nhận tinh trùng) một cách giới hạn. Mục đích của ruồi cái là mang thai đẻ trứng rồi… chết trong khi mục đích của ruồi đực là bơm tinh trùng của nó vào các ruồi cái, càng nhiều càng tốt trước khi xếp cánh.

Xem thêm:   Vật dụng nhỏ, ảnh hưởng lớn

Tiến Sĩ Hollis, hồi còn là sinh viên ban Cao Học tại Florida State University, đã bắt đầu tìm hiểu về sự ganh đua của ruồi và sự tiến triển não bộ của giống vật này. Ông ấy so sánh cách sinh sống của giống ruồi, một nhóm cho giao phối tự do, nhóm còn lại chỉ giao phối với một bạn tình duy nhất. Năm 2011, ông Hollis mang đàn ruồi đến Đại Học Lausanne, nơi Tiến Sĩ Kawecki, một chuyên viên về phương pháp học hỏi [learning] để cùng nhau tìm hiểu xem cách ruồi giao phối ảnh hưởng ra sao đến não bộ của chúng.

Để thí nghiệm, các chuyên viên huấn luyện cho ruồi biết sợ một mùi hương đặc biệt. Họ đặt một mẩu sáp hôi hám vào “chuồng” ruồi sau đó lắc chuồng dữ dội. Sau vài lần “dạy dỗ” như thế, đàn ruồi học được sự liên kết giữa mùi hôi và trận chấn động: hễ ngửi thấy mùi hôi là sẽ có cơn chấn động.

Sau đó, các chuyên gia quan sát xem hai nhóm ruồi đã học hỏi ra sao sau khi được (bị) huấn luyện. Họ cho hai nhóm ruồi vào một đường hầm có hai ngả rẽ (hình chữ T), một ngả có mùi hôi hám, ngả kia không có mùi hương nào.

Kết quả là nhóm “đa phu đa phụ” tìm ra đường “an lành” trong nhóm ruồi “một vợ một chồng” cứ nhắm xông vào ngả rẽ có mùi hôi hám! Nói giản dị là nhóm thứ nhì không học hỏi được cách tránh né sự nguy hiểm. (Bản năng căn bản của sinh vật là bảo tồn mạng sống).

Tiến trình học hỏi là đề tài được tìm hiểu ráo riết bởi nhiều nhóm chuyên viên, từ giáo dục, tâm lý đến sinh vật học, mỗi ngành chú trọng đến sự học hỏi một cách khác nhau. Và họ vẫn chưa thỏa thuận về nhiều đề tài liên quan đến sự học hỏi. Tuy nhiên, điều căn bản nhất vẫn là sự khôn ngoan của một sinh vật giúp nó sống còn; để sống còn, sinh vật cần “học” để biết kiếm mồi hoặc biết cách tránh né kẻ săn bắt.

Sự học hỏi đi cùng với “giá phải trả” nếu sự khôn ngoan kia không đến tự bẩm sinh. Loài vật có giống học nhanh hơn các giống vật khác. Sự khác biệt này đến từ “giá phải trả” cho sự học hỏi. Khi “học hỏi” có nghĩa là con vật trải qua các kinh nghiệm “đau thương”; nếu thoát chết, con vật học được kinh nghiệm ấy và truyền dạy cho con cháu cách sinh tồn (qua việc né tránh hiểm nguy). Não bộ phát triển các tế bào thần kinh thích ứng với các kinh nghiệm đã trải qua.

Xem thêm:   DNA truyện dài (kỳ 2)

Trở lại với kết quả của cuộc nghiên cứu kể trên, việc chung đụng với nhiều đồng loại đã giúp ruồi phải thích nghi nên chúng khôn ngoan hơn? Trí tuệ mở mang rộng rãi hơn khi con đực phải rủ rê những con cái khác nhau nên nó học nhiều cách tán tỉnh hơn?

Hai chuyên gia kể trên giả định rằng vì sự học hỏi đi kèm với “giá phải trả” nên sự tiến triển chỉ gia tăng khi sự học hỏi có “lợi” nhiều hơn “hại”, chẳng hạn như khi giao phối. Ruồi đực học nhanh có thể nhận mặt các con ruồi cái dễ dãi hầu có thể giao phối nhiều lần hơn trước khi mãn đời. Khi “ép” ruồi đực sống “một chồng một vợ”, việc học hỏi không còn mang lại lợi nhuận nào nữa nên ruồi đực… ngưng học hỏi?!

Ruồi nhặng thì như thế còn con người chúng ta thì sao?

TLL

Một ít chi tiết về ruồi: Ruồi là côn trùng trong họ Diptera, gốc từ chữ Hy Lạp di = hai, và ptera = cánh. Chúng có đôi cánh để bay từ ngực (mesothorax) và một đôi cánh cụt từ bụng. Họ côn trùng này có nhiều chi, và bao gồm đến 240,000 chủng loại khác nhau, từ ruồi, muỗi, gnats, midges và các loài khác…

Trên đầu là những con mắt lớn, dùng tế bào thần kinh để thu nhận chi tiết và điều khiển đường bay. Ruồi không có răng hay các bộ phận để nghiền, nhai thức ăn trong thể khối nên chúng chỉ ăn những chất lỏng hoặc những thức ăn rất nhỏ như phấn hoa.

Bộ phận sinh dục của ruồi cái có thể chuyển động theo vòng tròn khi giao phối, giúp con đực chuyển tinh trùng vào cơ thể dễ dàng. Do đó, ruồi có khả năng sinh sản nhanh chóng và dồi dào hơn các loài côn trùng khác.

Ruồi cái đẻ trứng gần nơi có thực phẩm, giúp ấu trùng ăn uống tối đa trong thời gian rất ngắn trước khi trưởng thành. Trứng nở ngay sau khi đẻ.