Bầu trời đêm êm như một tấm thảm nhung không vết gợn. Không có tiếng động cơ. Không có tín hiệu radar. Không có bất kỳ cảnh báo nào tại các hệ thống phòng không.

Ở độ cao 15 km, một bóng đen vô thanh trôi đi êm ru. Không ánh đèn. Không phản quang. Không ai biết “thần chết” đang lơ lửng trên đầu.

Trong trung tâm chỉ huy, màn hình radar vẫn nhảy sóng đều đặn, không tín hiệu gì bất thường. Các sĩ quan nói chuyện gẫu, uống trà, đếm thời gian trôi.

03:08:21 thời điểm cuối cùng mà họ còn cảm thấy an toàn. Những tia chớp sáng lòa lao xuống. Không tiếng còi hú. Không cảnh báo đỏ. Mặt đất rung lên. Và rồi, như cách nó đến, B-2 biến mất. Không camera nào ghi được hình ảnh. Không máy bay kịp đuổi theo. Radar bỗng hiện lên một chấm nhỏ rồi mất hẳn…

Ðó là B-2, sát thủ tàng hình, B-2 không có đuôi, thân hay cánh thẳng đứng, radar rất khó bắt sóng phản hồi. Thiết kế “cánh bay” (flying wing) giúp giảm tối đa diện tích phản xạ radar (RCS – radar cross-section), ngoài ra còn có những lớp phủ đặc biệt hấp thụ sóng radar trên bề mặt.

Động cơ được giấu sâu trong thân có đường hút gió hình chữ S để chắn nhiệt hồng ngoại và tiếng ồn. Nhờ vậy B-2 có thể xuyên thủng hệ thống phòng không hiện đại nhất, xâm nhập sâu vào lãnh thổ đối phương mà không bị phát hiện, kể cả các khu vực được bảo vệ bằng hệ thống phòng không tinh vi nhất như  S-400 của Nga.

Bay cao, tốc độ cao, tầm hoạt động rộng khiến B-2 trở thành vũ khí chiến lược vô cùng nguy hiểm. Nó có thể mang được 18 tấn vũ khí, gồm bom hạch nhân và vũ khí thông thường, như bom dẫn đường thông minh (JDAM), bom xuyên boong-ke (bunker buster), cất cánh từ căn cứ ở Mỹ (Whiteman AFB, Missouri), đến chớp nhoáng bất kỳ nơi nào trên thế giới, tấn công và quay về không để lại dấu vết, nếu được tiếp nhiên liệu trên không, B-2 có thể bay vòng quanh Trái Đất.

Hệ thống phòng không S-400 hiện đại nhất của Nga

Giá

Giá mỗi chiếc B-2 khoảng 2 tỉ đô la, chi phí nghiên cứu và thử nghiệm trong vòng 10 năm hết 44 tỉ. Chi phí mỗi giờ bay 130,000 USD – đắt bậc nhất thế giới, nếu không so với Air Force One ($200,000/giờ).

Do chiến tranh lạnh với Nga hạ nhiệt, chỉ có 21 chiếc được chế tạo thay vì 132 như dự trù. Sau tai nạn năm 2008, còn 20 chiếc hoạt động, trong đó 1 chiếc dành cho huấn luyện. Đây là dòng máy bay hiếm nhất trong lực lượng Không quân Hoa Kỳ. B-2 từng được sử dụng trong các chiến dịch quan trọng ở Serbia, Afghanistan, Iraq và Libya, thường là tung những đòn tấn công sấm sét đầu tiên, dọn đường cho các lực lượng khác.

Khác với máy bay chiến đấu, phi công B-2 gần như dựa hoàn toàn vào hệ thống và màn hình điện tử, radar khi điều khiển. So với các máy bay của các cường quốc khác, các loại B-2 Spirit (Mỹ), B-21 Raider (Mỹ), Tu-160M (Nga) và H-20 (Trung Quốc – đang ráp) thì máy bay Mỹ có ưu thế vượt trội  ở mức siêu tàng hình, tốc độ cao hơn, tải trọng nhiều hơn.

Tuy đang ở vị thế “độc cô cầu bại”, B-2 Spirit đã chuẩn bị cho đàn em B-21 Raider là phiên bản kế nhiệm thay thế, hiện đại hơn, bảo trì dễ hơn, chi phí thấp hơn, tàng hình siêu hơn, sẽ giữ vai trò “xương sống” của Không quân Mỹ trong tương lai.

Máy bay bỏ bom Tu-160M của Nga

Vì sao B-2 ra đời?

Thời Chiến tranh Lạnh giữa Mỹ và Liên Xô.  Những năm 1970–1980, hệ thống phòng không Liên Xô (với radar, tên lửa đất đối không, tiêm kích đánh chặn) ngày càng tinh vi, có thể phát hiện và hạ các máy bay bỏ bom B-52 một cách dễ dàng. Cụ thể thời chiến tranh với cộng sản Bắc Việt, Mỹ mất 31 chiếc. Kể luôn các mặt trận trên thế giới, 94 chiếc B-52 bị loại khỏi vòng chiến. Mỹ vò đầu bứt tóc làm sao phải tạo ra một loại máy bay có thể “vô hình” trước radar đối phương. Thời đó, ý tưởng này không khác gì chuyện trong mơ, như trong các bộ phim khoa học viễn tưởng.

Xem thêm:   Trong bóng tối

Nhưng ý tưởng này vẫn được nghiêm túc nghiên cứu, năm 1979, Không quân Mỹ khởi động dự án tuyệt mật có tên là “ATB: Advanced Technology Bomber”. Hai tập đoàn lọt vào chung kết là Northrop (mẫu cánh bay) và Boeing-Lockheed (mẫu có đuôi).

Năm 1981, Northrop thắng thầu với thiết kế “flying wing” – loại máy bay gần như không có thân, đuôi hay cánh đứng, giảm phản xạ radar tối đa. Thiết kế này dựa trên máy bay thử nghiệm YB-49 từ năm 1940 cũng do Northrop phác họa nhưng cuối cùng bị hủy bỏ vì khó điều khiển. Để giúp B-2 tàng hình, thân máy bay sử dụng vật liệu composite, bên ngoài phủ nhiều lớp sơn hấp thụ sóng radar, động cơ giấu trong bụng. Hệ thống bay hoàn toàn điều khiển bằng máy tính (fly-by-wire) – nếu máy tính trục trặc, là cả phi cơ lẫn phi công sẽ lâm nguy.

Từ đó khởi sự từ hàng nghìn lần sai lên trật xuống, hàng trăm tấn thiết kế mật và vô số đêm mất ngủ của những kỹ sư giỏi nhất nước Mỹ. Mỗi lần cất cánh, hàng ngàn người nín thở, rồi thất vọng.

Mô hình máy bay tàng hình H-20 của Trung Cộng

Đứa con đẻ khó

Việc nghiên cứu và chế tạo máy bay tàng hình B-2 Spirit là một thử thách công nghệ, tài chính lớn bậc nhất trong lịch sử hàng không Hoa Kỳ. Hình dạng “cánh bay” (flying wing) không có đuôi hay thân riêng biệt khiến máy bay rất dễ mất thăng bằng, khó điều khiển bằng tay, do vậy phải dựa vào hệ thống trợ giúp bằng vi tính, một ý tưởng tiên phong nhưng bị cho là điên rồ.

Nhưng đó không phải là khó khăn lớn nhất, khó nhất là làm sao nó vừa bay được mà “vô hình” trước radar. Để hấp thụ sóng radar, B-2 cần loại sơn hấp thụ radar (RAM coating) – loại sơn này có nhược điểm là rất dễ tróc, khó bảo trì. Vật liệu cho thân máy bay phải đặc biệt nhẹ, bền, cứng, chịu nhiệt cao, chịu áp lực lớn và không phản xạ sóng. Hàng ngàn mẫu vật liệu “áo tàng hình” đều thất bại. Tiếp theo là phải thoát nhiệt và giảm tiếng ồn, động cơ máy bay thường phát ra rất nhiều nhiệt và âm thanh xé óc, đối phương có thể dò bằng cảm biến hồng ngoại hoặc các thiết bị dò bức xạ điện từ (như radar, IRST…).

Trong khi nghiên cứu và chế tạo, các kỹ sư được xe đặc nhiệm chuyển qua nhiều trạm trước khi đến nơi làm việc, ở đây họ chỉ thực hiện từng phần,  không nhóm nào có thể biết toàn bộ thiết kế. Nhưng bảo mật nghiêm ngặt quá cũng không sung sướng gì, nhiều nhóm kỹ sư không hiểu ý nhau, làm chậm trễ tốc độ thi công và xảy ra không ít sai sót. Kế hoạch được giữ kín đến nỗi hầu hết các Thượng nghị sĩ, dân biểu Quốc hội Mỹ cũng mù tịt, chỉ trừ một nhóm nhỏ tín cẩn.

Không chỉ bị áp lực trên vấn đề nghiên cứu mà còn một số thành viên quốc hội la toáng, vì một dự án tiêu ngốn hơn 44 tỉ mà chẳng thấy mặt mũi ra sao. Một số chính trị gia chỉ trích đây là “chiếc máy bay mạ vàng” khi thấy chi phí tốn gấp 10 lần máy bay thường.

Nhưng chừng đó chuyện chưa làm các  kỹ sư nhức đầu đủ, tai nạn khi bay thử xảy ra liên miên, các tình huống bất trắc trên máy bay mô hình qua màn ảnh vi tinh khiến họ đã phải nhiều lần thiết kế lại toàn bộ chương trình software điều khiển.

Bên trong phòng lái B-2, có toilet, microwave, tủ lạnh… tạo tiện lợi cho phi công phi vụ dài giờ

Sức mạnh tàng hình

Xem thêm:   Chà Và Ma Ní

Cả ngàn lần bay thử nhưng lần tham chiến đầu tiên của B-2 là năm 1999 tại Serbia. B-2 bay thẳng từ Missouri (Mỹ) đến Serbia, bỏ bom rồi âm thầm quay về căn cứ, phi vụ này hoàn toàn không bị radar hoặc phòng không đối phương phát giác.

Tiếp theo, B-2 tham chiến tại Iraq, Afghanistan, Libya… chủ yếu là xóa sổ các mục tiêu phòng thủ kiên cố. Mới nhất là phá hủy căn cứ Fordow, nơi làm giàu urnium của Iran, một cái “gai” mà Mỹ theo dõi từ năm 2006, tình báo Mỹ có đủ chi tiết về địa chất, vật liệu xây hầm, thiết kế… Cơ sở này nằm ở độ rất sâu, trong núi đá vôi dày, vượt mức tiêu chuẩn mà bom MOP có thể xuyên phá. Trong vụ không kích này tổng cộng 13 chiếc B‑2 tham gia: 6 chiếc đánh lạc hướng, 7 chiếc thực hiện nhiệm vụ. Mỗi chiếc B‑2 mang 2 quả bom MOP 30,000 pound (~14 tấn), nhắm đến 2 mục tiêu: Fordow và Natanz.

Ai lái B-2?

Dẫu được vi tính hỗ trợ tối đa nhưng không phải phi công nào cũng đủ tiêu chuẩn bay B-2, đây là các phi công được tuyển lựa gắt nhất trong Không quân Hoa Kỳ. Đầu tiên là “lý lịch” tuyệt đối trong sạch (kiểm tra lý lịch an ninh cấp cao – Top Secret), phải là sĩ quan Không quân, tốt nghiệp từ Học viện Không quân (Air Force Academy), hoặc Đại học dân sự có chương trình ROTC (Reserve Officer Training Corps), hoặc Khóa huấn luyện sĩ quan OTS (Officer Training School). Phi công B-2 phải có kinh nghiệm bay trên B-1, B-52, F-15, F-16, hoặc máy bay huấn luyện phản lực như T-38, tối thiểu 1,000 giờ bay, trong đó có nhiều giờ bay đêm, bay trong điều kiện thời tiết khắc nghiệt.

Sau khi được chọn, phi công phải qua khóa huấn luyện chuyển loại (Initial Qualification Training – IQT) khoảng 6–9 tháng tại Whiteman Air Force Base (Missouri) – căn cứ duy nhất có B-2. Học điều khiển máy bay cánh bay không ổn định, làm quen với hệ thống điện tử, radar, kỹ thuật tàng hình, quy trình thả bom thông minh, đánh bom hạch nhân, gây nhiễu điện tử, chống radar, cách đối phó với các hỏa tiễn đất đối không. Thử bay trên mô hình vi tính và giải quyết các tình huống cấp bách.

Đội bay luôn có hai phi công, phi công chính (Aircraft Commander) và phi công phụ (Mission Commander): điều khiển vũ khí, định vị, liên lạc với các lực lượng hỗ trợ khác.

Không quân Mỹ, chỉ chọn được khoảng 500 người để tham dự khóa huấn luyện B-2, cuối cùng chỉ khoảng 20–30 người đủ điều kiện lái B-2 thực thụ. Đây là nhóm phi công được giữ nhân thân bí mật và “tinh hoa” nhất thế giới.

Bởi vì lái B-2 không chỉ là điều khiển một máy bay, mà là có khi quyết định số phận cuộc chiến toàn cầu.

Mẫu máy bay YB-49 do Northrop thiết kế năm 1940, chính là tiền thân của B-2, nhưng thời đó bị hủy bỏ do khó điều khiển.

Có tàng hình mãi?

Không có gì là vĩnh cữu. Kể cả kỹ thuật tàng hình của B-2. Đối thủ mày mò nghiên cứu và một ngày nào đó họ sẽ tìm ra cách nhận diện B-2 “tàng hình”. Điều này Mỹ đã định liệu trước, họ luôn giả định: “Stealth is not invisibility”, tàng hình (stealth) không có nghĩa là vô hình tuyệt đối, mà chỉ là giảm khả năng bị phát hiện, không để đối phương kịp có thời gian phản ứng và chuẩn bị trước khi tấn công.

Làm sao để giữ ưu thế tàng hình của B-2? Cách duy nhất là nâng cấp trước khi đối phương tìm ra phương cách giải mã. Chỉ phép tàng hình chưa đủ mà B-2 phải cập nhật hệ thống gây nhiễu radar, thay thế lớp phủ bằng vật liệu mới. Từ năm 2000 đến nay, B-2 đã được nâng cấp 3 lần từ hệ thống AN/APQ-181 sang AESA và đang thử nghiệm LIDAR tránh dò nhiệt.

Xem thêm:   Rome nơi thời gian đứng lại

Một chiến lược khác ít ai biết là trong các phi vụ tấn công, không bao giờ B-2 hành động đơn lẻ, nó được hỗ trợ bởi vệ tinh do thám, drone gây nhiễu, máy bay tác chiến điện tử (EC-130, EA-18G).

Ngoài ra Mỹ  đang chuẩn bị cho một thế hệ tàng hình mới, lợi hại hơn, B-21 Raider sẽ xuất trận vào năm 2027, B-21 Raider không chỉ tàng hình, mà còn có AI hỗ trợ điều khiển, tự động biến đổi đánh lạc hướng radar đối phương, có một bầy drone đi kèm, tạo  nên những B giả. Một kỹ thuật mới cũng sẽ áp dụng cho B-21 Raider là chiếu một lớp vỏ “tàng hình quang học” (optical stealth) – bằng camera siêu nhỏ rọi lên thân máy bay để đổi màu như tắc kè. Tình báo Mỹ cũng dò xét đối phương dùng các loại radar ứng phó nào, radar lượng tử, radar mạng pha v.v… Như vậy cần triệt hạ radar từ xa (ví dụ: AGM-88G AARGM-ER) trước khi B-2 đến.

Đối thủ có gì?

Đối thủ không chịu khoanh tay ngồi yên,  Nga với PAK-DA thiết kế cánh bay nhái theo B-2, do Tupolev nghiên cứu phát triển, với tên rất kêu “Kẻ thách thức”, đáng tiếc là “kẻ thách thức” vẫn còn nằm trên… bản vẽ. Trung Quốc đối chọi với “bóng ma Mỹ” bằng mô hình “Bóng ma phương Đông” H-20 (Hồ Yến – Hong-20), bóng ma phương Đông hơi thiếu tự trọng với mẫu mã y chang B-2, dự tính được lắp ráp bởi tập đoàn máy bay Tây An (XAC), chưa thấy bay thử dầu đã công bố rùm beng sẽ trình làng vào năm 2025–2027.

Ấn Độ cùng bài của Trung Quốc bằng mẫu Ghatak UCAV “chôm” từ B-2, đây là loại máy bay đánh bom “tàng hình” không người lái, kích thước nhỏ.

Châu Âu đến nay vẫn chưa có tín hiệu nào.

Một chuyên viên vũ khí gắn bom JDAM lên B-2, viết tắt từ “Joint Direct Attack Munition” (Vũ khí tấn công chính xác liên quân), một loại bom thông minh điều khiển bằng GPS.

Tàng hình ra sao?

Thực tế một chiếc máy bay dềnh dàng như B-2, sải cánh 52 mét (172 feet), dài 21 mét (69 feet), cao 5,2 mét (17 feet) sẽ tàng hình ra sao? Trên màn hình radar, B-2 hiện ra chỉ bằng con chim sẻ, có khi bằng một hạt bụi, và thường nó sẽ bị bỏ qua do nhầm là hiện tượng nhiễu sóng hoặc côn trùng bay. Chỉ có loại radar VHF/UHF (tần số thấp, bước sóng dài)  của Nga, Trung Quốc có thể phát giác B-2 từ rất xa, nhưng lờ mờ, không đủ thông số để tấn công.

Nhược điểm lớn nhất của B-2 là nếu bị radar chiếu từ bụng hoặc quay ngang, thì hình ảnh có thể tăng lên gấp nhiều lần. Nhưng bù lại B -2 có  kỹ thuật che chắn bằng tạo bóng giả làm radar đối phương “hoa mắt”.

Nhưng B-2 thường không tấn công mà nhiệm vụ chính là phá hủy, mục tiêu là hệ thống radar, trung tâm chỉ huy, hệ thống phòng không, phi trường nằm sâu trong lãnh thổ đối phương để dọn đường cho các lực lượng khác.

Dù radar không “nhìn thấy” được B-2, họ vẫn nghe và dò được âm thanh? Rất khó, B-2 gần như không gây ra tiếng ồn. Nó bay rất cao, từ 40,000–50,000 feet (12–15 km) nơi mà âm thanh bị “nghẽn” trong khí quyển. Phần nữa, động cơ giấu trong thân, có một hệ thống thoát khí đặc biệt để giảm thiểu tiếng ồn. Người dưới đất hoàn toàn không hay biết đang có B-2 lơ lửng trên đầu.

Kết

Khi B-2 cất cánh, kẻ thù mất ngủ, không biết nó ở đâu, sẽ đánh vào chỗ nào. Mặc dầu B-2 không phải là vũ khí quyết định toàn bộ cuộc chiến, nhưng là những đòn chí mạng đầu tiên đánh vào não, mắt và dây thần kinh đối phương. Với khả năng xuyên thủng mọi hệ thống phòng không, B-2 xuất hiện bất kỳ nơi nào trên hành tinh, thần tốc, âm thầm và chính xác, điều đó khiến đối phương phải dè chừng, cân nhắc mọi hành động liều lĩnh.

B-2 như một lời nhắc nhở lạnh lùng, nó không chỉ là một công cụ chiến tranh – mà là một loại vũ khí giữ gìn hòa bình, đủ mạnh để không ai dám bước qua giới hạn.

Máy bay đánh bom “tàng hình” không người lái, kích thước nhỏ Ghatak UCAV của cà ri Ấn.

TY