“…Chỉ là những câu chuyện vụn vặt được chắp nối qua những mảnh đời dân quê miệt kinh rạch hầu san sẻ cùng bạn trẻ, những người chưa hoặc không có dịp sống gần gũi với dân ruộng về các miền kinh rạch ấy như một nét đặc thù của văn minh Việt bên cạnh một nếp “văn minh miệt vườn” khá sung túc, trù phú…” (Hai Trầu Lương Thư Trung).

Luôn tự nhận mình là một “người nhà quê”, nhưng ai cũng hiểu là cách nói khiêm cung của một học giả, kiến thức quảng bác, như bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc trìu mến nhận định “Nó là văn chương miệt vườn. Sau này muốn biết về miền Nam mưa nắng hai mùa ra sao thì phải đọc Sơn Nam và Hai Trầu thôi.”.

Mời bạn cùng chúng tôi dạo chơi cùng mưa nắng miền Nam…

(tiếp theo)

Từ đó, ở đồng áng, nếu mùa lúa nào thất bát quá, như sau khi bị sâu ống, loại sâu đục thân lúa, hoành hành, cây lúa bị đứt cái mầm chính rồi trổ bông lúa nhỏ, ít hột, không sai oằn như bông cái lúc sung túc, dân ruộng gọi dạng bông lúa nhỏ là “bông chét”. Chú nhớ lại coi xem có đúng như vậy hông?

Trong lá thư trước gởi mấy thầy bên bển, tui cũng có bàn sơ qua về cá kèo, từ đó dẫn đến mấy chữ “cháo rồ”, “coi hát hạng cá kèo”, nay xin miễn nhắc lại vì thư đã khá dài, mà tui cũng hơi mỏi mắt vì đèn đuốc lu quá, mà cái soi chưa thay được kiếng mới.

Thư Tết viết cho chú vậy mà lan man cũng đã khá dài. Nhắc lại chuyện ma, chuyện đá banh năm kia, rồi còn nhiều chuyện khác nữa, nhưng ngặt nỗi thư đã dày cộm, đành phải hẹn lại thư tới.

Trước khi dừng lại, tui và chị hai chú có lời cầu chúc vợ chồng chú và sắp nhỏ mạnh giỏi, học hành tấn tới. Tui cũng không quên gởi lời thăm chú Tám Thanh sớm bình phục sau cơn mổ bao tử lần thứ năm vào đầu năm Tây, và tui cũng thăm vợ chồng Thím Sáu Tần mạnh khỏe hơn năm trước, không còn đau yếu cà sịch cà lụi hoài như năm rồi, mất vui.

Riêng tui với chị Hai chú bên nhà vẫn ngày hai buổi vui cùng sắp nhỏ và đan thêm cái rổ cái nia, chăm sóc vườn rau, bụi bí, bụi bầu cho vui tuổi già như câu thơ cổ của Trạng Trình chỉ dạy:

“Được thua thấy đã ắt nhiều phen,

Để rẻ công-danh đổi lấy nhàn.

Am Bạch-Vân rỗi nhàn-hứng,

Dặm hồng-trần biếng ngại chen.

Ngày chầy họp mặt hoa là khách,

Đêm vắng hay lòng, nguyệt ấy đèn.

Chớ chớ thờ-ơ nhìn mới biết,

Đỏ thì son đỏ, mực thì đen.”(*)

Nay thư,

Hai Trầu

(*) Bài “Nhẹ đường danh lợi” của Nguyễn Bỉnh Khiêm.

Ao đục, ao trong

Kinh xáng Bốn Tổng ngày mùng Bốn Tết Giáp Thân, nhằm ngày 25 tháng 01 năm 2004

 

Chú Út sắp nhỏ,

Bà con chòm xóm kinh xáng Bốn Tổng mình xôn xao lo chuẩn bị  cho ba ngày Tết, rồi cũng qua. Một con giáp nữa lại về với đồng quê mình, rất gần với loài người, mang tên là năm Con Khỉ, mà hồi nhỏ tui với chú đi học lớp sơ học trên nhà lầu của ông chệt Được với thầy Chín Nhậm, lần nào đi ngang qua nhà cậu ba Sáng cũng đều sợ con khỉ của cậu ba nuôi buộc gần cây chùm ruột nó rượt mình. Hồi đó, còn con nít, anh em mình hay chọc phá nó và kêu nó là “mai, mai, mai”. Vậy mà nó biết loài khỉ còn có tên là mai, nó chạy vòng vòng gốc chùm ruột kêu chí chóe như có ý méc với cậu Ba là có mấy đứa nhỏ chọc phá nó. Nhớ lại mới đó mà nay đã hơn sáu chục năm rồi. Mau quá là mau hở chú Út!!!

Thời giờ như thể tên bay mà! Giờ ngồi nhớ lại mà biết ớn hoá công sao khéo bày ra giờ giấc, tháng năm cho thêm tuổi, thêm già. Quả là ngán ngẫm cái sự biến thiên của vạn vật. Nhớ hồi xưa bà con mình hay rủ nhau “ta về ta tắm ao ta, dù trong dù đục ao nhà vẫn hơn”, nói như vậy là trọng cái nền đạo lý chơn chất quê mùa, cái gốc gác của ông cha là từ ruộng từ bùn mà bò lên trần thế này, là cái nền tảng nhân luân dễ sống dễ thở, lấy hiền làm trọng, lấy đức ăn đời, lấy phước di dưỡng tinh thần cho đời này, đời sau.

Xem thêm:   Sám hối trước biển

Nay tui đọc được mấy lời “Chúc Mừng Năm Mới” của mấy thầy bên Úc, thì lại nói có hơi khác xưa rất nhiều, giống như kim đồng hồ thế kỷ hai mươi mốt này đã đến hồi quay ngược 180 độ hết trọi rồi. Số là khi gần kết thúc lá thư đầu năm, Ban chủ trương diễn đàn điện tử Tiền Vệ trên không trung do hai nhà văn Nguyễn Hưng quốc và Hoàng Ngọc Tuấn đại diện có lời kêu gọi mọi người cùng chung lý tưởng làm ra cái mới trong văn chương là bỏ “cái mảnh ao nhà đã đục ngầu và ô nhiễm đến mức không còn có thể chịu đựng được nữa.”(1)

Chú Út sắp nhỏ,

Đọc được lời kêu gọi ấy, tui quá ngỡ ngàng mà buông caí soi xuống bàn, bóp bóp cái trán già nhăn nheo đầy vết đồi mồi mấy cái cho bớt nhức cái đầu vì bị hụt chân, xơ vơ sững vững giữa rừng chữ nghĩa mà mấy chục năm sống nơi trần gian này mình cứ đinh ninh văn chương làm gì mà đến hồi mạt vận quá mạng vậy! Thú thực, tui hoảng hồn hoảng vía khi nghe các vị ấy báo động tình trạng “cái mảnh ao đã đục ngầu và ô nhiễm đến mức không còn có thể chịu đựng được nữa”, mà bần thần trong người mấy ngày mấy đêm liền. Tui  nay tuổi già sức yếu nên dễ căng thẳng thần kinh lắm chú Út vì một báo động hãi hùng về tình trạng “cái mảnh ao” mà hồi trước mình rủ nhau dìa nhà mà tắm trong “ao ta”, “ao nhà”!!!

À, còn cái vụ này nữa chú Út, không biết “cái ao” xưa nay bộ có thể chia manh xẻ mún được sao mà các thầy lại dùng chữ “cái mảnh ao”, quả là cái mới, rất mới, mà tui mới nghe lần đầu trong lúc tuổi đời cũng sắp gần đất xa trời này!!!

Nói thì nói chơi vậy thôi, chứ đời nay khác đời xưa rất nhiều chú Út à! Mà không khác thì làm gì có cái mới, cái hay! Các thầy rủ nhau làm mới văn chương bằng cách dắt tay nhau “phiêu lưu trong chữ nghĩa”(2), quả là một sự can đảm! Phải như vậy mới có cái mới. Nhưng chưa tìm ra cái mới mà đã phá cái cũ quá e rằng mình không có chưn đứng thì cũng nguy hiểm.

Nói thì nói chơi vậy thôi, chứ khi nhà văn muốn là trời can cũng không nổi, nói gì hạng ruộng rẫy như mình! Chỉ có điều các nhà ấy nói “cái mảnh ao đã đục ngầu và ô nhiễm đến mức không còn có thể chịu đựng được nữa” chung chung quá, mình không biết cái ao đó nằm về hướng nào, có gần nhà mình hông? Phải chi các bậc thức giả ấy nói rõ hơn, chỉ tên các thời kỳ văn học bị “đục ngầu” ấy rõ hơn để mình dễ tránh, đừng bước xuống đó tắm, đỡ bị ghẻ thì phận hèn này cảm ơn các bậc thức giả ấy biết mấy.

Hỏi thì hỏi vậy, chứ đời nào ai rảnh rang đâu mà chỉ ra cho mình thấy chỗ đục chỗ trong ở cái ao đâu chú Út. Có khi các vị ấy còn rầy: “Ông nhà quê ơi, ông hãy tự tìm kiếm mà tránh đi chứ. Tui báo động đỏ mà ông không chịu tránh thì đừng có trách tụi tui bất nhơn. Chừng bị lây “ô nhiễm” thì ráng mà chịu, chớ trách trời, mà cũng chẳng nên trách người. Chỉ đơn giản có vậy!”

Xem thêm:   “Ăn coi nồi, ngồi coi hướng”

Chú Út sắp nhỏ,

Nghĩ lại phận mình quanh năm chỉ quẩn quanh với ba cái lúa thần nông, hết mùa Đông Xuân lại tới Hè Thu, rồi thêm vụ ba vụ lỡ, mùa mía, mùa khoai, mùa đậu, mùa cà, mùa lưới, mùa câu, mùa trúm, mùa lọp…. Trăm thứ trăm lo, của tiền hao hụt, có khi  nợ nần chỉ còn cái miễu ông Tà là mình không dám thiếu là chỉ để lo làm ra hột ngọc của trời, trước cho nhà có miếng ăn miếng mặc, sau lo cho cháu, cho con có chút để, chút dành hầu phòng khi tối lửa tắt đèn nên phải nhận ra lớp dân kinh xáng mình dốt quá mạng! Do vậy mà không dám hó hé nói chữ nghĩa với ai.

Nhưng vì cái đời quê đó nó cũng bị cái học cũ từ các đời tổ tiên có dạy mình rồi tui mới ngồi chắt lọc lại thì cũng xin mạo muội thử làm cho “cái mảnh ao nhà” bớt đục bằng cách này, không biết các bậc thức giả có chịu hông? Bằng chịu thì tui mừng; bằng hông chịu thì tui cũng thấy vui rồi vì dù gì lớp dân quê cũng có giơ tay lên có vài ý kiến rồi, chứ không như chỉ dựa cột mà nghe rồi để bụng ngồi cười một mình hóa ra mình là người quá nhỏ mọn, hẹp hòi, ích kỷ, chỉ cười sau lưng mà không dám nói ra trước mặt, kể ra như vậy cũng là người không theo cái nếp nhà quê, tui cứ cắn rứt hoài…Phải vậy hông chú Út?

Tui nghĩ cái gì mà gọi là “hay” đều do cái cảm mà nhận, chứ không do cái biết mà có, nên mỗi người nhận cái “hay” mỗi cách. Cái cảm thì mềm. Cái biết thì cứng. Mà theo Lão Tử, cái mềm là biểu hiện của sự sống; cái cứng là biểu hiện của cái chết (3). Nghệ thuật làm từ sự sống, nên cũng phải được nhận ra từ sự sống. Người mà chết rồi hết còn biết nhận ra cái nào “hay”, cái nào dở nữa, và chừng đó, văn chương nghệ thuật đối với họ không có gì quan trọng nữa. Tui nghĩ nôm na như vậy đó chú Út sắp nhỏ, chú xem có điều gì quá trật hông?

Qua đó, xin miễn bàn thêm vì đã có sách vở hẳn hòi nói về cái đề tài hay hoặc dở, mới hoặc cũ ấy rồi. Còn tui thì xin mạo muội đưa ra đề nghị là tất cả các bậc tác giả nên ngưng trước tác. Không có trước tác sẽ không có “cái mảnh ao nhà đục ngầu và ô nhiễm”.

– Nếu quý vị bảo rằng khi không còn ai viết nữa thì lấy đâu có văn chương?

– Nếu vậy, quý vị cứ tiếp tục viết ra, nhưng đừng phổ biến.

– Rồi có vị lại bảo, không phổ biến làm sao người đọc biết mình có viết?

– Không cần ai biết, chỉ một mình mình đọc và vợ con đọc là đủ rồi. Nếu cần ai biết là mình viết vì cầu danh, cầu lợi sao?

– Có người bảo, như vậy hổng được. Viết phải có người đọc.

– Nếu vậy thì thôi, theo nhà văn Phạm Thị Hoài cũng được: “Đối với nhà văn, người đọc rõ ràng là kẻ mà hắn chung sống chẳng được, mà không chung sống cũng chẳng xong.”(4)

– Thôi thì cứ phổ biến cho người ta đọc cho vui, nhưng khi gởi cho báo đăng trước tác của mình, nếu báo không đăng thì chớ nên trách chủ báo làm gì vì trước khi trách chủ báo mình tự trách mình trước mới phải, vì mình muốn làm “cái ao nhà đục ngầu” thêm!!!

– Còn nếu có tác gia muốn gom lại nhiều trước tác để in thành sách vì sợ thất lạc, đặng giữ lại cho đời lâu bền hơn, các tác gia cứ gom lại mà in thành sách cho chắc ăn, nhưng không nên nhờ các nhà văn tên tuổi viết lời tựa hay lời bạt, vì làm như vậy lại trở về nếp cũ mất rồi. Hoá ra văn chương cũng phải nhờ vả, cầu cạnh nữa sao? Các tác gia không tin vào tài năng của mình sao? Và làm như vậy người đọc có cảm tưởng các tác giả các bài tựa, các lời bạt đã đọc giùm mình hết rồi, nên nỗi ám ảnh mình là người đọc sau trở thành mất hứng, mất vui.

Xem thêm:   Suy Đi Ngẫm Lại (03/05/2026)

– Và ở tình trạng chẳng đặng đừng, nếu có sách rồi, quý vị có chút danh rồi hay có tên tuổi hẳn hoi rồi, điều kỵ nhứt là quý vị chớ nên chấp nhận trả lời bất cứ đề nghị phỏng vấn, phỏng viếc gì của bất cứ nhà báo nhà biếc nào ráo trọi. Vì tâm lý người đọc rất sợ những bài phỏng vấn như dàn dựng sẵn một cách giới thiệu tác giả, tác phẩm, làm họ mất hứng khi tìm cái hay, cái mới, cái lạ trong các tác phẩm của các tác giả.

– Nhưng nếu lỡ không từ chối được những lời đề nghị nói về mình, nói về sách của mình qua các phóng viên, thì quý vị cứ trả lời tuốt luốt những gì mình đã suy tư về văn chương như một trò chơi mà quý vị đang chơi trong cuộc “phiêu lưu chữ nghĩa” (5) cho vui. Đừng quan tâm làm gì trúng trật. Làm như Sơn Nam (6) vậy mà cũng êm lắm!!!

– Chung qui, nếu các trước tác càng giữ kín trong tủ chừng nào, càng hạn chế phổ cập ra bên ngoài chừng nào nó lại càng quí. Vì nếu các tác gia cho người đọc ăn món ăn của mình in ít thôi, món ăn càng hấp dẫn. Chính vì vậy, người ta thường biết nhà văn thiên tài, tác phẩm bất hủ là phần nhiều sau khi nhà văn không còn nữa. Lúc bấy giờ các bản thảo nằm tuốt trong các hộc tủ lại là của quí hơn vàng. Người ta sẽ đi tìm đỏ con mắt mới hy vọng tìm gặp. Người đương thời hoặc người đời sau sẽ không tiếc bút mực viết lời ca tụng các áng văn chương tuyệt diệu ấy mà lúc tác giả còn sanh tiền họ lại coi thường, nhiều lúc còn khinh khi mai mỉa!!!

– Cái mới của văn chương không do người đương thời công nhận mà do lớp sau, thế hệ sau, có khi mãi tới cả trăm năm sau mới có người nhận ra. Lúc bấy giờ đừng lo, vì tác giả đã ra người thiên cổ hết rồi, nên không còn ai để mà trách cứ, giận hờn gì lớp hậu sinh biết cảm cái hay, cái mới rất chậm này nữa. Cũng vui thôi!!!

– Tất cả các đề nghị vừa ghi nhằm ao ước duy nhứt là làm sao giảm được phần nào “cái đục” và “ô nhiễm” trong “ao nhà” tới đâu mừng tới đó vậy!

(còn tiếp)

Cước chú:

(1) “Chúc Mừng Năm Mới”, Tết Giáp Thân(2004) của diễn đàn Tiền Vệ trên liên mạng toàn cầu do Nguyễn Hưng Quốc chủ trương.

(2) “Chúc Mừng Năm Mới”, Tết Giáp Thân (2004)của diễn đàn Tiền Vệ do Nguyễn Hưng Quốc chủ biên.

(3) Do câu trong sách “Lão Tử-Đạo Đức Kinh” của Nguyễn Hiến Lê chú dịch và giới thiệu, trang 270, nhà Văn Hoá xuất bản, năm 1994:

”Nhân chi sinh dã nhu nhược, kì tử dã kiên cường. Vạn vật thảo mộc chi sinh dã nhu thủy. Kì tử dã khô cảo.

Cố kiện cường giả, tử chi đồ; nhu nhược giả, sinh chi đồ.” (Lão Tử)

Nghĩa là:

“Người sinh ra thì mềm yếu mà khi chết thì cứng đơ. Thảo mộc sinh ra thì mềm dịu mà khi chết thì khô cứng.

Cho nên cứng mạnh là cùng loài với chết; mềm yếu là cùng loài với sống.” (Nguyễn Hiến Lê dịch)

(4) Bài trả lời phỏng vấn của Phạm Thị Hoài, do Phạm Việt Cường hỏi, trích trên mục phỏng vấn của diễn đàn điện tử Nhân Văn.

(5) Chữ dùng trong lời “Chúc Mừng Năm Mới” Tết Giáp Thân của Tiền Vệ.

(6) Tạp chí VĂN số 81&82, mục Ghi Chép, trang4 và 5, tháng 9&10 năm 2003 (Hoa Kỳ).