Đã từng một thời giới quý tộc châu Âu lấy số đặt tên cho con. Đối với những dòng họ danh giá thì cái họ của họ là sự kiêu hãnh, “nhãn hiệu cầu chứng” xuất thân danh gia vọng tộc” của cá nhân, người nào được mang họ “cao quý” đó rất lấy làm hãnh diện, xuất thân dòng “đích tôn” lại càng hãnh diện hơn. Và dấu hiệu “bảo chứng” nguồn gốc đích tôn, người thừa kế (tài sản, tước vị, danh hiệu) thì người ta không cần chọn tên cầu kỳ cho đứa trẻ, mà khai sanh chỉ cần ghi họ và “đánh số” thêm là đủ. Thí dụ như I, II, III… mà người Việt thường đọc là Đệ Nhứt, Đệ Nhị, Đệ Tam.
Người châu Á giai cấp “sĩ” thì rất cầu kỳ trong việc chọn đặt tên cho đứa trẻ mới sanh. Ngày xưa người ta không có giấy tờ tùy thân, không có thẻ căn cước, cũng không chụp hình nhận dạng, chưa biết dùng dấu vân tay, khi đó tên gọi là một trong những dấu hiệu để nhận ra mối quan hệ thân nhân, họ hàng (nếu rủi bị thất lạc), hoặc người ngoài nghe tên họ thì biết ngay con cháu nhà ai.
Người trưởng tộc (hoặc đứng đầu gia đình) phải suy nghĩ, chọn lựa rất kỹ tên cho những đứa trẻ tương lai. Con của vợ chánh thì phải lót chữ gì, tên theo vần gì, con vợ lẻ thì bắt buộc phải lót chữ gì, đặt tên gọi theo vần gì, con trai phải theo vần gì, con gái phải theo vần gì… Cái khó cho người có nhiệm vụ đặt tên là tên những đứa trẻ vừa theo quy định của dòng họ, vừa phải là tên tốt, tên sang trọng.
Người Trung Hoa đặt tên không phân biệt nam nữ. Thí dụ chữ Văn, Chương, Long, Phụng, Mỹ, Lượng… đều có thể đặt cho trẻ nam, trẻ nữ.
Do quan niệm bông hoa sớm nở tối tàn nên người Trung Hoa xưa cũng “kỵ” không dùng tên bông hoa đặt cho con gái, mà các tên bông hoa thường được các cô gái trong xóm bình khang dùng làm “nick name” khi hành nghề.
Ngoài việc dùng tên gọi như một cách để nhận biết mối quan hệ huyết thống, họ hàng thì người Trung Hoa cũng dùng tín vật (ngọc bội, đồng xu) chẻ đôi giao mỗi đứa trẻ một nửa để đeo, sau này lớn lên mà ở xa thì ráp tín vật lại để nhận nhau.
Người Việt đặt tên con theo ba “trường phái.” Thứ nhứt là giới nông phu nhà nghèo, sanh con ra thì kiếm những cái tên xấu “ma chê quỷ hờn” đặt cho con để con mạnh khỏe, không bịnh tật ốm đau. Thời xưa rất nhiều người ở vùng nông thôn có tên Tý, Cu, Bẹp, Tủn, Nhái, Cóc, Cò, Muối, Quẹo…
Thứ hai là giới sĩ có chữ thì ảnh hưởng cách đặt tên của người Trung Hoa, tức là chọn trước tên đẹp, tên có ý nghĩa tốt lành giàu sang cho đứa trẻ. Đặt tên con theo vần theo nhánh nổi tiếng nhứt Việt Nam là vua Minh Mạng với bài Đế Hệ thi.
“Trường phái” thứ ba là “thấy mặt đặt tên,” sanh ra rồi cứ nhìn theo đặc điểm đứa trẻ mà đặt tên, không cố ý chọn tên tốt trước, cũng không cố ý lấy tên xấu xí.
Nhân vật “thấy mặt đặt tên” theo truyền thuyết là công chúa Mỵ Nương con gái vua Hùng trong truyện Sơn Tinh Thủy Tinh. Truyện kể công chúa sinh ra có nhan sắc rất xinh đẹp nên được đặt tên là Mỵ Nương, tức người con gái đẹp. Nhân vật thứ hai là công chúa Tiên Dung cũng con gái vua Hùng. Công chúa cũng rất đẹp, mặt mũi sáng rỡ, thần khí thanh cao nên được vua cha đặt tên là Tiên Dung, nghĩa là dung nhan đẹp như nàng tiên.
Tương truyền bà Võ Hậu (Võ Tắc Thiên, nữ hoàng đế đầu tiên và duy nhứt của Trung Hoa) khi mới sanh ra dung nhan đã tỏa sáng ngời ngời, bà đỡ nhìn thấy, nói rằng cô bé sau này tất là quý nhân khó ai sánh kịp. Cha bà bèn đặt tên cho con gái là Võ Mỵ Nương.
Nước ta có vị tướng họ Lê quê ở tỉnh Hưng Yên, từ nhỏ đã nổi tiếng thông minh, hiếu học và ăn khỏe, có sức lực mạnh mẽ hơn người nên được cha mẹ đặt cho tên Như Hổ. Lê Như Hổ sau đậu Tam Giáp Tiến sĩ đời vua Mạc Hiến Tông (1541), làm quan đến chức Thượng Thư Bộ Binh. Ông đi sứ sang Tàu rồi học lóm được nghề làm dù đem về truyền lại cho dân Việt. Tại xã Hồng Nam (Hưng Yên) hiện nay còn đền thờ Lê Như Hổ.
Thập niên 70, 80 thế kỷ 20, đời sống dân chúng ở Việt Nam quá khổ, cơm ăn, áo mặc, thuốc chữa bệnh đều thiếu thốn, lại thêm nhà cầm quyền ép buộc dân “kế hoạch hóa gia đình” nên dân ta thời ấy không muốn có nhiều con như xưa. Nhìn qua nhìn lại quanh mình ai cũng khổ hết nên phần lớn dân chúng cũng không chú trọng phải đặt tên con là gì cho nó “sang.” Qua thập niên 20 thì đời sống không còn “nghẹt thở” nữa mà đã “thở hé hé” được rồi, lúc này bỗng rộ lên phong trào người người chọn năm đẻ con, con nhà ai đẻ ra cũng đều là “quý tộc,” “ngọc ngà châu báu” hết. Phần lớn những đứa trẻ sanh ra giai đoạn này nếu không lấy tên lót là “Gia” thì cũng là “Bảo” kèm theo các tên Ngọc, Ngà, Châu, Huy, Kiệt, Khánh, Kim …. vừa quý tộc vừa khát vọng giàu sang.
Có “nhà thơ thần đồng” nổi tiếng ở miền Bắc Việt Nam đã trung niên mà mới sanh con gái đầu lòng. Báo chí đua nhau chúc tụng, mớm lời, hẳn “nhà thơ thần đồng” thì phải lựa một cái tên thật hay, thật lạ, thật độc đáo không trùng với ai để đặt tên cho “cục vàng.” Tôi cũng là một trong số độc giả báo hóng mỗi ngày coi tài văn chương chữ nghĩa của “nhà thơ thần đồng” đặt tên con hay như thế nào. Tới lúc công bố “nhà thơ thần đồng” đặt con gái tên là “Anh Thư” thì tôi bật ngửa, tên tuy đẹp nhưng không có gì độc, lạ hết. Chữ anh thư có nghĩa là cô gái thông minh, tài giỏi, kiệt xuất, dũng cảm. Theo cổ văn thì anh thư có nghĩa là người phụ nữ anh hùng. Trong tác phẩm Trùng Quang Tâm Sử, cụ Phan Bội Châu dùng chữ “anh thư” để chỉ những nữ anh hùng, liệt nữ không quản gian khổ, hy sinh vì nghĩa lớn, gánh vác nhiệm vụ nặng nề.
Tôi biết rất nhiều người nữ có tên Anh Thư, nhưng rồi cuộc sống và sự nghiệp của họ chìm nghỉm theo năm tháng. Cho tới nay thì cô gái con nhà thơ đã trưởng thành, mặc dù có nền tảng gia đình cha mẹ vững chắc nhưng cô không có công trình cá nhân nào tương xứng với hai chữ “anh thư.”
Cháu gái tôi mới sanh, bà ngoại nó (cán bộ phụ nữ phường) lên mặt “Ta là cán bộ, tụi bây thì biết gì,” giành đặt tên cháu bả. Tưởng tên gì hay ho, coi khai sanh tôi tá hỏa thấy ghi “Tạ Ngọc Trân Châu.” Tôi nói “Trời ơi, đặt tên gì mà quê dữ vậy? Ngọc là trân châu, trân châu là ngọc. Đã ngọc rồi còn trân châu nữa, nghe cái tên biết tham lam rồi.” Bả tức, nhưng không biết cãi lại tôi cách nào.
Xóm tôi có một bà, coi phim mê cô đào Diễm My nhan sắc kiêu sa lộng lẫy, bèn chọn tên Diễm My để sẵn đặt cho con bà. Họa vô đơn chí, đứa bé bị dị tật bẩm sinh. Tới tuổi đi học, mỗi lần giáo viên gọi tên Diễm My thì bạn học lại cười cợt, chọc ghẹo đứa bé. Thật tội cho đứa trẻ, không biết bà ấy đã đổi tên cho con gái chưa? Hoặc là đứa con chờ đến khi đủ tuổi thành niên thì tự mình đi làm giấy tờ đổi tên cho đỡ bị mấy kẻ xéo xắt dè bỉu.
Người ta nói cha mẹ đặt tên con lựa “văn hay chữ tốt” là kỳ vọng vô tương lai đứa con sau này sẽ được như tên, nhưng kỳ vọng quá cao thì đó là đặt gánh nặng áp lực lên vai đứa trẻ một cách không cần thiết.
TPT








