“Có thể bạn chưa nhận ra, nhưng bạn chính là thế hệ phụ nữ đầu tiên của dòng họ được đi đây đi đó, được lựa chọn con đường riêng và tạo nên cuộc đời của riêng mình.”

Nguồn: thread.com
Lướt mạng xã hội, tôi đọc được câu nói hay quá trời ở trên và chạnh lòng quá… Chạnh lòng cho những cuộc đời đa số phụ nữ Việt thế hệ trước. Họ đi qua chiến tranh, qua bao cấp, qua cái thời ngăn sông cấm chợ, rồi bị quăng thẳng vô thời mở cửa hối hả như ai bấm nút tua nhanh. Nhiều khi cái cổng chào của huyện còn chưa kịp bước qua, đã phải quay về vì tem phiếu, vì hộ khẩu, vì lo bữa cơm chiều nay độn khoai hay độn sắn, vì con nhỏ, vì một nghìn thứ nằm chặn ngay cửa. Họ đâu có thiếu can đảm; họ chỉ thiếu dứt khoát và thừa gánh vác.
Vẫn có những người phụ nữ thuộc về tầng lớp được thời cuộc ưu ái, đã bước ra thế giới từ rất sớm bằng những tấm vé hạng sang. Nhưng với đa phần những người đàn bà lam lũ ở các vùng quê nghèo, thì phải đợi đến lứa 8x, 9x đời sau, cánh cửa “lũy tre làng” mới thực sự hé mở. Có người bước ra bằng con đường học vấn, rực rỡ và kiêu hãnh, như bạn trẻ tên Oanh dưới đây:
“Mẹ mình vất vả rất nhiều, cả đời mẹ cũng không đi được nhiều nơi. Mẹ mình hy sinh để mình được đi học, đi du lịch, để mình được bay đi đây đi đó trong vùng trời của mình, nhưng mẹ mình chưa có chuyến bay nào cho riêng mình cả. Mặc dù gia đình mình có kinh tế hơn xưa, mình với chị mình cũng đã bon chen vào đời, nhưng bản tính tiết kiệm để dành nó theo mẹ cả đời rồi hay sao ấy. Rủ đi thì mẹ cũng không đi, nhưng tâm nguyện của mình là muốn mẹ được đi thật nhiều, thật nhiều nơi. Bọn mình lo được mà.”
Vâng, Việt Nam có hàng trăm triệu người mẹ như vậy! Dẫu gia đình khá hơn, nhưng thói quen “để dành” vẫn đeo theo mẹ như cái bóng tới cuối đời, cái cổng làng như có bùa phong ấn bước chân những người mẹ. Và nối tiếp gót chân mẹ, là chị… Bởi phận đàn bà Á Đông, ít ai chịu… sướng khi nhìn người thân khổ. Và nhiều người phụ nữ thế hệ nối tiếp – thế hệ khổ thứ 2 sau thời bao cấp ở Việt Nam – đã bước ra bằng một “con đường tắt” đầy nước mắt: xuất cảng hôn nhân – hoặc là di cư hôn nhân (cho dễ nghe).

Cô dâu Việt thành “hàng hóa” – Nguồn: Tiktok
Trong bối cảnh cơ hội việc làm và thăng tiến tại địa phương còn hạn chế, hôn nhân xuyên quốc gia trở thành một “con đường tắt” để thay đổi số phận cho không chỉ cá nhân họ mà cả một gia đình. Đối với nhiều phụ nữ ở các vùng nông thôn nghèo những năm 2000-2010, việc lấy chồng ngoại quốc thường không bắt đầu bằng tình yêu, mà bắt đầu bằng một “hợp đồng kinh tế” bằng miệng. Khi đó, người phụ nữ vô tình gánh vác vai trò của một lao động đặc biệt, gánh theo hy vọng về một cuộc sống đủ đầy hơn của cả gia đình. Nàng ra đi, ôm trọn giấc mơ những mái nhà tường vôi đỏ ngói ở quê cho cha mẹ, học phí đèn sách cho em trai em gái, tương lai của mấy đứa cháu… nhưng để lại sau lưng là cả tuổi thanh xuân và những ước mơ chưa bao giờ được xướng, cũng chưa ai hỏi nàng ước mơ gì. Chắc hẳn là không phải ước làm một món hàng!
Một khoảng thời gian, có sự thật đau lòng, những phụ nữ Việt trần truồng xếp hàng để được “coi mắt” bởi các “chú rể” không mấy trẻ khỏe (Hàn Quốc, Đài Loan, Trung Quốc chiếm đa số); và “những chú rể” đó cũng không coi những người phụ nữ họ đang coi mắt là người, chỉ là công cụ sanh con, làm việc nhà, làm vợ. Những cuộc ngã giá bi thương được trình diễn công khai trước mặt dàn “cô dâu”… Rất, rất và rất rất ít người tìm được may mắn trong phận làm dâu xứ người thời đó. Không biết ngôn ngữ, không có hộ chiếu, không được gia đình chồng đón nhận nhưng không thể rời đi… chiếc nhẫn cưới đối với họ như cái còng số 8 mạ vàng.
Khảo sát từ Ủy ban Nhân quyền Quốc gia Hàn Quốc 2018 cho thấy hơn 40% phụ nữ ngoại quốc trải qua bạo lực thể chất, 68% bị quấy rối tình dục không mong muốn, và hơn 80% chịu lăng mạ lời nói. Có những vụ bi thảm: cô gái Việt bị chồng đánh chết chỉ sau vài tháng, hay bị sát hại ngay khi mới đến. Tỷ lệ ly hôn trong các gia đình đa văn hóa cao hơn trung bình, và khi ly hôn, phụ nữ Việt thường gặp khó khăn về tài chính, quyền nuôi con (tòa Hàn ưu tiên cha vì ngôn ngữ), và cả định kiến “chạy trốn”.

Pakistan, xứ sở Hồi Giáo với nhiều quy tắc khắt khe – vẫn có nhiều cô dâu Việt – Nguồn: Yan
Ai cũng biết hoặc nghe phong phanh những điều rủi đó, nhưng hãy nhìn xem, dòng người “xuất cảng hôn nhân” chưa bao giờ ngừng lại; chỉ là có chọn lọc hơn, mở rộng “địa chỉ” hơn, và các cô dâu Việt được quyền lợi cao hơn trong cuộc mua bán đó. Theo báo cáo từ Cục Lãnh sự (Bộ Ngoại giao) và Tổng cục Thống kê, hiện nay cả 63 tỉnh thành của Việt Nam đều có công dân kết hôn với người nước ngoài. Cô dâu Việt đã hiện diện ở hơn 100 quốc gia và vùng lãnh thổ. Châu Á, Châu Âu, Châu Phi, Châu Mỹ, Châu Đại Dương, Châu Nam Cực; không châu nào không có bóng cô dâu Việt. Sau bao nhiêu “sự thật”, thì sự thật là theo Cục Thống kê Hàn Quốc năm 2024, phụ nữ Việt Nam chiếm tỷ lệ lớn nhất trong số các cô dâu ngoại quốc ở Hàn; nghĩa là từng ấy năm, hàng ngàn cô gái mỗi năm vẫn bước lên máy bay, vác theo hy vọng đổi đời cho gia đình, cho chính mình qua Hàn.
Để minh chứng cho sự “bền bỉ” đó không hề âm thầm lặng lẽ, ngày 4-2-2026, tại một buổi tọa đàm chính thức của chính quyền đồng thời được phát trực tiếp trên truyền thông, chủ tịch quận Jindo, ông Kim Hee Soo, nói rằng: “Cần thực hiện các biện pháp đặc biệt trong vấn đề dân số như “nhập khẩu” các thiếu nữ trẻ từ Sri Lanka hoặc Việt Nam để gả cho các thanh niên nông thôn bổn quận.”
Không biết những người phụ nữ Sri Lanka nghĩ gì, trai làng xứ ấy có chạnh lòng khi nghe hai từ “nhập khẩu”? Thực chất hai từ “nhập khẩu” không mới với người Việt, nhưng nó tát một cú trực diện vào lòng tự trọng dân tộc và phẩm giá phụ nữ, khi con người bị xem là “hàng hóa” để giải quyết bài toán nhân khẩu học cho một vùng nông thôn già cỗi. Đa số người dân Hàn Quốc và Việt Nam đồng loạt phê phán ông Kim Hee Soo bởi phát ngôn trên. Đại sứ quán Việt Nam tại Hàn Quốc, ngày 06-02-2026, cũng đã gửi công thư nhấn mạnh: “Tôn trọng phẩm giá, danh dự của công dân, đặc biệt là phụ nữ vốn là giá trị, tài sản và tôn chỉ chung của hai dân tộc Việt Nam và Hàn Quốc. Chính phủ, nhân dân Việt Nam ghi nhận và đánh giá cao các nỗ lực của chính phủ và nhân dân Hàn Quốc trong bảo vệ, phát huy và thúc đẩy phẩm giá của người phụ nữ nói chung và phụ nữ Việt Nam nói riêng.”

Những cô dâu Việt: “Một người về đỉnh cao. Một người về vực sâu.” – Nguồn: Facebook
Ông Kim Hee Soo cũng đã phải cúi đầu xin lỗi người dân Sri Lanka và Việt Nam vì phát ngôn của mình.
Tuy nhiên, vẫn có số đông cho rằng: Dầu cụm từ “xuất cảng hôn nhân” nghe có phần cay nghiệt, nhưng lại phản ảnh chính xác. Phẩm giá và hạnh phúc của người phụ nữ đã từng là một loại “ngoại tệ” đặc biệt để cân bằng cán cân kinh tế cho gia đình. Một quá trình dài, thân phận phụ nữ nằm vắt vẻo trên những bảng tỷ giá hối đoái, nơi treo ngọn cờ kinh tế, xã hội Việt Nam lên càng cao sau khi mở cửa… Ông quan quận Jindo kia chỉ là người nói hớ ra cái điều mà ai cũng biết.
Sự thật vẫn là sự thật, dầu sự thật làm tan nát trái tim người tử tế! Có nhiều “cánh thiên di” đã về nhà khi nằm gọn trong hũ cốt; cũng có người về trong sự ghẻ lạnh, hắt hủi của chính gia đình mà họ dày công vun vén. Còn lại, là những giấc mơ bị bỏ quên, nằm im như hành lý thất lạc không ai đến quầy nhận. Nhìn coi, những con người đáng thương đó có giống như một món hàng hết date?
Đau lòng hơn là những đứa trẻ lai – những “món hàng” thế hệ thứ hai cũng đang bối rối giữa hai dòng máu. Có đứa phước hạnh, lớn lên trong vô tư và hạnh phúc. Có đứa bất hạnh, trở thành đứa trẻ trong câu nói trên mạng xã hội Trung Quốc gần đây “Người mẹ mất 1 ngày để lấy chồng miền núi sâu nhưng những đứa con phải mất cả đời để vượt ra khỏi vùng núi đó.”
DU

Bà Tám ở Sài Gòn









