Chó là vật nuôi trong nhà của người từ thuở xa xưa. Báo cáo của Viện nghiên cứu Francis Crick ở London nói rằng chó được cho là hậu duệ của sói xám, con người đã thuần hóa sói thành vật nuôi cách đây khoảng 15,000 năm trong kỷ Băng Hà.

Cùng sống hoang dã theo bầy có linh cẩu và chó rừng, nhưng con người không chọn linh cẩu và chó rừng để thuần hóa, mà lại chọn sói xám. Theo ý tôi, linh cẩu tuy tên có chữ cẩu (chó) nhưng khoa học lại xếp nó vô loại “động vật có vú ăn thịt dạng mèo,” mà mèo thì rất không biết nghe lời, không có tánh kỷ luật và rất khó huấn luyện thuần thục, nên linh cẩu bị con người thời xưa chê. Thứ hai là linh cẩu có bộ dạng xấu xí và gian ác, nhìn rất thiếu thiện cảm.
Người xưa cũng không chọn chó rừng để thuần hóa, vì chó rừng rất ít sống theo bầy và cũng vô kỷ luật không khác gì linh cẩu.
Đối với loài sói xám, chúng sống theo bầy, có sói đầu đàn biết tổ chức cuộc săn, có tánh kỷ luật, trung thành với bầy. Sói có vẻ đẹp dũng mãnh và kiêu hãnh, có sức mạnh, có trọng lượng đủ áp đảo con mồi và sự nhanh nhẹn cần thiết khi tấn công con mồi. Những phẩm chất của sói xám đã chinh phục trái tim người xưa, và không biết chính xác từ lúc nào, ở nơi đâu, sói đã được đem về ở chung trong túp lều của loài người. Từ đó, sói trở thành chó nhà, cùng tồn tại song hành với cuộc sống và sự phát triển của người cho tới thời hiện đại. Quá trình song hành và phát triển đó sói xám được lai tạo thành nhiều giống chó khác nhau, trở thành “thú cưng” (pet) của người. Nhiều giống chó sanh ra chỉ để hưởng thụ sự sung sướng, được con người cung phụng mà chúng không cần phải “lao động” cực khổ kiếm tiền như chủ nhân của chúng.
Tại sao người phải nai lưng kiếm tiền để nuôi chó, để phục vụ chó từ miếng ăn thức uống cho tới giường ngủ, đồ chơi? Câu trả lời rất đơn giản là bởi vì người ta yêu chó. Những giống chó lớn (chăn cừu, bảo vệ) mặc dù có làm việc, nhưng cũng được chăm sóc đầy đủ, được chủ yêu thương.
Giống chó lông dày Bắc Mỹ nhìn bề ngoài chúng không khác gì những con sói xám, sói tuyết Bắc Mỹ. Vậy người ta làm thế nào để nhận ra đâu là sói hoang dã, đâu là chó nhà? Có người nói rằng hãy nhìn cái mũi của chúng, mũi của sói nhọn và hơi hếch lên, mũi chó nhà không nhọn, thẳng chớ không hếch. Đó là khi quý vị có thể quan sát chúng ở khoảng cách gần, còn ở khoảng cách xa thì không thể nhận biết bằng cách nhìn mũi. Có một cách khác để nhận biết đâu là chó nhà, quý vị hãy gọi tên nó, từ rất xa, nó sẽ hướng mắt, dỏng tai về phía quý vị. Và cái đuôi, phải, chính cái đuôi, sẽ cong lên ve vẩy rối rít rộn ràng mừng rỡ. Khi con chó tiến tới gần quý vị, quý vị sẽ nhìn thấy sự ấm áp, sự hiền dịu, tình yêu thương tràn đầy trong đôi mắt nó khi nó nhìn quý vị. Sói xám hoang dã không biết vẫy đuôi, đuôi sói luôn cụp xuống, ánh mắt nó tràn đầy sự cảnh giác, nghi ngờ. Biết vẫy đuôi thể hiện tình cảm là một bước tiến hóa dài từ loài sói xám trở thành chó nhà. Người chủ yêu con chó của họ khi nhìn thấy nó rối rít vẫy đuôi, miệng kêu ư ử nũng nịu.
Khi ở Việt Nam tôi có nuôi 5 con chó. Mỗi lần chó mẹ đẻ tôi đều quan sát quá trình chó con lớn lên từng ngày. Tôi rất ngạc nhiên khi thấy chó con được vài ngày tuổi, chưa mở mắt nhưng chúng đã biết vẫy rối rít mẫu đuôi ngắn ngủn nhỏ xíu như đầu đũa. Tôi có thể khẳng định vẫy đuôi để nịnh chủ là độc quyền của bọn chó, mà những vật nuôi trong nhà khác không có.
Có người nói người ta yêu chó vì chó trung thành, chó biết giúp đỡ chủ, chó yêu thương và hy sinh vì chủ vô điều kiện. “Con không chê cha mẹ khó, chó không chê chủ nghèo.” Dù chủ có là một người hành khất, thì trong mắt con chó của anh ta, anh ta vẫn là một người chủ khả kính mà con chó rất mực yêu thương và nghe lời.
Vào những năm đầu thập niên 20 thế kỷ 20, câu chuyện có thật về chú chó tên Hachiko trung thành chờ đợi người chủ (đã qua đời) ở nhà ga suốt 10 năm làm xúc động cả nước Nhật. Người Nhật đã làm một bức tượng chó Hachiko ở nhà ga Shibuya để tưởng niệm nó sau khi Hachiko qua đời. Câu chuyện về Hachiko được chuyển thể thành phim, truyện tranh và tác phẩm văn học, được dịch ra nhiều thứ tiếng trên thế giới. Bức tượng Hachiko được coi là biểu tượng cho tình bạn chung thủy của Hachiko và chủ nó – giáo sư Eisaburo Ueno.
Một con chó Tây dũng mãnh mang dáng dấp loài sói rất nổi tiếng khác là chó Buck và người chủ John Thornton trong truyện Tiếng Gọi Nơi Hoang Dã (The Call of the Wild.) Truyện được dịch ra nhiều thứ tiếng, được dựng thành phim, còn Buck trở thành chú chó nổi tiếng, một nhân vật huyền thoại biểu tượng của sự dũng cảm, khôn ngoan và tình bạn chung thủy.
Khác với Hachiko là một con chó có thật, Buck là nhân vật tưởng tượng của nhà văn Jack London, nhưng mặc kệ, Buck vẫn tồn tại, vẫn có một đời sống riêng vô cùng sống động trong lòng độc giả/khán giả hâm mộ Buck, vì vốn dĩ, những độc giả/khán giả ấy trong lòng họ đã có sẵn tình yêu thương dành cho loài chó. Họ cũng giống như người chủ của Buck – người đàn ông đi tìm vàng John Thornton.
Những người đã từng nuôi chó đều biết rằng tuy chó không nói được, nhưng nó rất biết cách an ủi người chủ, nó biết cách thể hiện biểu cảm ở ánh mắt, lông mày, khóe miệng… làm cho tan chảy trái tim người chủ. Có những chú chó thường xuyên cho chúng ta thấy nó đang cười vui thích, mặc dù đó có phải là nó cười hay không thì chúng ta không biết. Nếu quý vị đối xử với nó bằng tình thương êm dịu, nó sẽ đáp trả bằng tình thương yêu không bờ bến đối với bạn.
Trong đời sống, chó thường “làm hề” khiến người chủ vui thích, người chủ cảm thấy được an ủi, cõi lòng lắng dịu khi ôm chú chó của mình vào lòng. Ở khu vực thành phố, người ta nuôi chó trong nhà, thỉnh thoảng dẫn chó ra ngoài đi dạo trên đường với cọng dây cột ở cổ chó. Trường hợp này quan hệ chó và chủ dù khá là thân mật nhưng vẫn không thể sánh bằng chó và chủ cùng chạy trên cánh đồng mênh mông. Khi chó và chủ cùng tổ chức, cùng tham gia vào một cuộc săn trong môi trường hoang dã, sự gắn kết tình cảm đôi bên được nâng cao, hỗ trợ, bảo vệ lẫn nhau, cùng vui mừng khi săn được con mồi, và không gì bằng niềm vui tận hưởng thành quả cuộc săn của cả hai. Cuộc săn không chỉ là săn hươu nai cầy cáo của chó Tây, chó cỏ Việt Nam tới mùa gặt lúa thì cùng chủ đi săn chuột đồng, “tay nghề” chó cỏ cũng không hề kém cạnh chó Tây.
Hàn Quốc, quốc gia có truyền thống ăn thịt chó từ thời xưa, đã ban hành luật cấm ăn thịt chó, luật chính thức có hiệu lực từ ngày 07 Tháng Tám năm 2024 tại Hàn Quốc. Tờ Korea Herald cho hay, luật này cấm nuôi chó lấy thịt, cấm bán thịt chó, chính phủ Hàn Quốc đang bồi thường cho hơn 5,600 cửa hàng bán thịt chó, trang trại chó và nhà hàng thịt chó, trước khi buộc đóng cửa hoàn toàn. Luật cấm bán thịt chó đánh dấu sự thay đổi có tính đột phá mạnh mẽ nhằm vào truyền thống dân tộc mà trong thời đại ngày nay, truyền thống đó bị coi là thiếu văn minh.
TPT










