Dù chỉ được sống dưới chính quyền tự do VNCH 9 năm, nhưng những kỷ niệm của thời gian ấy không bao giờ phai nhòa trong tôi.

Căn nhà của ba má tôi cũng là quán nước cà phê giải khát đối diện trại Quân Cụ Đoàn Dư Khương. Xung quanh đó trong vòng một cây số, có trại Quân Trang, Quân Nhu, Truyền Tin. Cách nhà tôi vài bước là một Câu Lạc Bộ Mỹ, bao bọc bởi các khu gia binh. Cuộc sống xóm tôi, thời binh lửa, êm đềm lẫn xôn xao buồn vui thời chiến, nơi có những vọng gác, bao cát, hàng rào B40, xe cam nhông và hình ảnh những người lính VNCH, lính Mỹ, lính các nước đồng minh …

Tôi xin kể về những người lính Mỹ tôi đã gặp, khi tôi là cô bé 8-9 tuổi.

Sau ngày “giải phóng”, đi học, bài vở nói lính Mỹ ác, lính Mỹ xấu, tui có thấy xấu thấy ác gì đâu nà!. Tôi nhớ ngày xưa thỉnh thoảng có những xe nhà binh đổ xuống mấy chàng lính Đại Hàn từ tiền tuyến xa về, ồn ào vào quán tôi, hoặc có khi mấy lính Mỹ trẻ từ Câu lạc bộ Mỹ bên kia rảnh rang vào quán ngồi uống cafe, chai bia con cọp, hút điếu thuốc lá Pall Mall, để vừa nghỉ ngơi, vừa thoải mái tiếp xúc với người dân, nhất là với lũ con nít xóm tôi.

Chẳng hiểu sao với lính Đại Hàn mũi tẹt mắt hí thì lũ chúng tôi chẳng đến gần, nhưng khi thấy lính Mỹ vào quán là tôi và mấy đứa bạn hàng xóm thích lắm, vì họ luôn vui vẻ cười nói, rồi nghe họ “xi xô” tiếng Mỹ tuy như vịt nghe sấm, nhưng mà… vui tai. Có anh khách quen thỉnh thoảng cho chúng tôi “sô-cô- la” và có lần tôi còn mạnh dạn hát cho anh lính Mỹ ấy nghe chỉ một câu hát trong bài đồng dao Mỹ mà tôi nghe lỏm anh Ba tôi đi học Hội Việt-Mỹ về ôm đàn nghêu ngao: “Oh my darling, oh my darling, oh my darling, Clementine …”, anh lính thích thú vỗ tay và hát tiếp cả bài hát, cả đám nhóc tì chúng tôi nhảy tưng tưng, vỗ tay rần rần theo từng lời anh hát, vui thiệt là vui!

Anh rể tôi là Đại Úy Huấn Luyện Viên chiến thuật tại Trung Tâm Huấn Luyện Quang Trung, bữa đó anh có việc cần gì đó, đến quân trường rồi về ngay, nên anh chở tôi đi theo chơi (từ nhà tôi đến quân trường đi xe chừng nửa tiếng). Trời trưa nắng, anh để tôi ngồi trong căn phòng giữa quân trường xung quanh đầy cỏ lau, rồi anh đi ra ngoài nói chuyện với mấy anh lính cấp dưới, rồi có anh lính vô tình mở trái lựu đạn cay, tiếng nổ và khói đen mù mịt cả một vùng, bên trong phòng tôi khóc ré lên vì sợ hãi. Một hồi sau, bớt khói, chả thấy anh tôi đâu, có một anh lính Mỹ bước vào dỗ dành tôi, (dù là anh nói với tôi bằng tiếng Mỹ nhưng tôi vẫn… hiểu, vì giọng nói và cử chỉ thương mến ân cần), rồi móc túi ra cho tôi một hộp bơ đậu phộng, vài viên kẹo sữa, chờ tôi nín khóc, anh tôi trở lại người lính Mỹ này mới đi khỏi.

Ở đâu còn có ánh mắt e dè ngại ngùng khi có những người con gái Việt Nam lấy lính Mỹ, chớ xóm tôi thì không, “công đầu” là nhờ gia đình bác Phan.

Xem thêm:   Sài Gòn nhớ - Sài Gòn thương

Bác Phan trai là một chủ thầu xây cất khá lớn, luôn mặc đồ sơ-vin, đồ vest lịch sự, hòa nhã với chòm xóm, bác Phan gái dáng vẻ sang cả đẹp đẽ, hai vợ chồng bác Phan rất xứng đôi. Hai bác có hai người con, anh Tuấn đi du học bên Mỹ, về Sài Gòn làm cho bác Phan, còn chị Phượng tuy không đi du học nhưng nói Tiếng Mỹ khá lưu loát không thua gì bác Phan trai và anh Tuấn (chị Phượng từng là dân học Hội Việt Mỹ, nơi 3 người anh trai của tôi cũng đang vào học). Gia đình bác Phan là biểu tượng học thức, đạo đức, sống thân thiện nên được cả xóm nể nang.

Bỗng một hôm cả xóm xôn xao tin vui, chị Phượng lấy chồng… Mỹ! Chàng rể là sĩ quan quen biết với chị Phượng trong phi trường Tân Sơn Nhất nơi chị là thông dịch viên. Ngày cưới, chúng tôi chen chúc len lỏi ngay cửa nhìn vào trong nhóm người lớn đi dự (trong đó có ba má tôi) ăn cưới nhộn nhịp. Chàng Mỹ mặc khăn đống áo dài của Việt Nam mà vẫn oai phong, cao to, đẹp trai, chị Phượng cô dâu rạng rỡ trong chiếc áo dài khăn đống màu đỏ, mái tóc dài, cài cành hoa trắng trên đầu. Họ làm phép cưới trong Nhà Thờ do Cha xứ xóm tôi chủ tế. Trong đám cưới còn có một vài người Mỹ sĩ quan khác nữa, chắc là đồng cấp hoặc cấp trên của chú rể. Ai nấy đều tấm tắc khen chú rể Mỹ hiền ngoan, tuân theo phong tục Việt Nam mỗi khi chú rể cúi đầu vái lạy ông bà tổ tiên.

Dư âm cái đám cưới Mỹ-Việt nhà bác Phan vẫn còn, thì vài tháng sau lại nổ ra một cặp Việt-Mỹ khác, nhưng lần này hổng được ủng hộ ngay từ đầu, bị phản đối từ phía nhà cô dâu.

Bảo Huân

Đó là chị Đê, con bà Tư Đinh (nghe tên Tư Đinh hơi… gai góc dữ dội, chớ bà Tư hiền khô à, nhà bà sống trong trại gia binh vì chồng bà chết trận cũng khá lâu). Chị Đê vừa đủ 18 tuổi là đi làm phụ bếp trong căn cứ Long Bình, đùng một cái vác bụng bầu về nhà. Bà Tư tra hỏi, mới biết tác giả cái bào thai là một anh lính Mỹ, mà lại là Mỹ đen, bà khóc lóc bù lu bù loa cả xóm đều nghe:

– Trời ơi con ơi, sao mày ngu thế, đã lấy Mỹ thì phải biết mở mắt ra mà tìm Mỹ sĩ quan, Mỹ trắng như con Phượng nhà bà Phan kìa! Sao mày lại chui đầu vào cái thằng lính Mỹ quèn, nước da đen thui, đen hơn ông kem đánh răng Hynos, mày muốn cả xóm cười tao thúi mũi, mày muốn linh hồn Ba mày phải trốn chui trốn nhủi nơi chín suối mày mới vừa lòng hở cái con bất hiếu kia!!!

Chị Đê giọt vắn giọt dài năn nỉ:

– Má ơi, anh Joseph là Mỹ đen thì có tội tình gì đâu má? Ảnh hiền lành và thương con lắm. Vả lại, con gái nhà quê ít học như con, làm sao so sánh với chị Phượng được, hả má!?

Xem thêm:   Paris và những câu chuyện kỳ lạ về nước hoa

Dù gì thì gạo cũng đã nấu thành cơm, chị Đê bụng bầu cũng đã lum lúp rồi, bà Tư cũng không phải loại người ác nhân ác đức mà ép uổng con mình bỏ cái thai, nhưng bà cũng sĩ diện, nói eo xèo với chị Đê, để rồi có một ngày có buổi cơm nho nhỏ, gọi là ra mắt ông bà tổ tiên và hàng xóm. Bữa tiệc cưới không ồn ào rộn rã xập xình như nhà bác Phan, mà chỉ đúng 3 mâm với vài người rất thân thiết. Tôi cũng có mặt trong đám con nít lộn xộn và các hàng xóm “nhiều chuyện” khác, bu lại xem mặt mũi chàng rể da đen của xóm. Mà công nhận, chàng Joseph này nhìn là thấy có thiện cảm liền, đôi mắt to, nước da đen nâu chớ đâu có “đen hơn thằng kem đánh răng Hynos” như bà Tư phóng đại, đặc biệt là chàng rể này luôn mở miệng cười trước khi nói, rất có duyên.

Rồi thì mọi chuyện cũng trở nên bình thường, Joseph hễ đi tác chiến thì thôi, chớ lần nào nghỉ phép về nhà cũng chăm chỉ, phụ chị Đê cơm nước giặt giũ khi bụng bầu của chị nặng nề, khó di chuyển.

Chị Đê sinh một bé trai, đặt tên là Tom, nhưng chòm xóm ai cũng gọi nó là thằng Tôm vì tưởng chị Đê quên cái dấu mũ trên chữ Tom chớ nào ai biết đó là tên Mỹ! Ui chu choa, thằng Tôm nhìn cưng hết biết. Tóc lơ thơ quăn tít, đôi mắt cái miệng lúc nào cũng toe toét cười, y chang ba Joseph của nó, các bà các cô trong xóm tha hồ ẵm bồng đi khắp xóm. Joseph lại còng lưng phụ vợ giặt tã, cho con bú, chạy ra hàng tạp hóa mua sữa cho con, thấy mà thương. Bà Tư Đinh thấy mọi người quý mến Joseph cũng vui lây, quên hết những lời bà chửi rủa khi trước, không còn thấy màu da đen của Joseph là xấu xí nữa.

Vài tháng sau, bà Tư hớn hở khoe ba má của Joseph từ Mỹ gửi quà qua cho thằng Tôm, đứa cháu nội yêu quý. Mọi người lại chạy qua nhà bà Tư khi Joseph mang thùng quà về nhà, trịnh trọng lôi ra các món đồ: sữa bột, áo quần trẻ con, vớ, bao tay, khăn tắm, bánh kẹo cho người lớn và một lá thư có mấy tấm hình. Ai cũng hồi hộp chờ xem mặt mũi ba má của Joseph, thì bà Tư là người được xem trước, nét mặt ngạc nhiên khó hiểu. Một bà vội giựt xem tấm hình rồi la lớn:

– Ủa ủa, sao thằng Joseph nước da đen thui mà ba má nó trắng bóc như trứng lột vậy trời??

Chị Đê mỉm cười, giải thích:

– Dạ thưa cô bác, anh Joseph chỉ là con nuôi của ba má ảnh mà thôi. Họ đem ảnh về nhà từ trại mồ côi, khi ảnh còn đỏ hỏn như thằng Tôm này nè, rồi cho ảnh ăn học tử tế đàng hoàng. Khi đến tuổi trưởng thành, học xong Trung Học, ảnh xin tình nguyện vào Lính, ba má thương lắm nhưng cũng phải đồng ý, bắt ảnh hứa viết thư về thường xuyên đó.

Mọi người vỡ lẽ, lại được dịp bàn tán:

Xem thêm:   Chuyện sách Việt

– Người Mỹ họ tốt quá trời! Đã xin con nuôi sao không xin con da trắng xinh đẹp mà lại nhận con nuôi đen như nhọ nồi vậy cà?

– Nhìn mặt ông bà Mỹ da trắng thiệt là phúc hậu, anh Joseph này thiệt có phước, chị Đê với thằng Tôm cũng được hưởng lây.

– Người Mỹ không nuôi con nuôi thì thôi, chớ một khi đã nuôi thì chăm lo đầy đủ như con ruột, không phân biệt màu da, như thế mới gọi là nhân đạo, tình thương không biên giới, tui nể người Mỹ ghê nơi!

Trong lúc Joseph chia bánh kẹo cho mọi người, Chị Đê hãnh diện nói thêm:

– Dạ, ba anh Joseph ở bển làm giáo sư dạy học, còn má ảnh là y tá trong bệnh viện đó đa!

Đêm đó, bà Tư nằm xem lại mấy tấm hình ông bà “sui gia”, suy nghĩ mông lung mà cảm động lắm, họ là dân Mỹ trắng trí thức, còn xin đứa bé da đen về làm con và thương yêu nó. Trong khi con gái bà yêu thương Joseph thì bà đã chửi mắng thậm tệ và có ý nghĩ khinh thường Joseph. Nghĩ mà mắc cở. Bà Tư hối hận lắm, bà tự nhủ thầm, và thề hứa, từ nay thằng Joseph sẽ có một bà má Việt Nam… tuyệt vời, yêu thương nó không thua gì ba má Mỹ trắng kia. Sớm mai Joseph phải trở về đơn vị, phải chi nó hiểu tiếng Việt thì lần tới nó về nhà, bà sẽ nói một câu âu yếm chân tình để chuộc lại lỗi lầm:

– “Sẹp” ơi! Má thương con lắm, để má đổ bánh xèo cho con ăn nha!

Nhưng Joseph đã không bao giờ về nhà thăm vợ con nữa, trong một cuộc hành quân ở cao nguyên Trung phần, anh đã bị mất tích, chẳng biết sống chết ra sao.

Chị Đê, được niềm an ủi lớn lao là ba má Joseph nơi tiểu bang Alabama xa xôi, vẫn theo dõi chiến sự hàng ngày, gần đến ngày Sài Gòn sụp đổ, đã liên lạc nhờ người quen trong quân đội đưa chị Đê và thằng Tôm lên máy bay rời Việt Nam trong những ngày hỗn loạn cuối cùng năm ấy. Bà Tư Đinh không chịu đi, bà biểu chị Đê cứ mang thằng Tôm qua bển vì đó là quê Cha của nó, còn bà muốn ở lại với mồ mả ông bà tổ tiên. Nhưng sau vài năm “nếm mùi” Cộng Sản, bà đã đồng ý cho chị Đê bảo lãnh qua Mỹ.

Đó là những ký ức nhỏ nhoi của tôi về những người lính Mỹ mà tôi có tiếp xúc, có chứng kiến, dù chỉ là thoáng qua.

Rồi sau 14 năm sống với chế độ Cộng Sản Việt Nam, tôi cũng thoát được đến bến bờ Thailand trong chuyến vượt biên cuối cùng tháng 12/1989.

Nay đã 51 năm kể từ ngày tháng Tư tang thương năm ấy. Những người lính Mỹ tôi đã gặp thuở bé, những cục kẹo “sô-cô-la”, kẹo sữa và hộp bơ đậu phộng vẫn mãi ngọt ngào trong ký ức của tôi.

Cám ơn tất cả những người lính Mỹ, đã cùng với những người lính VNCH và đồng minh, gìn giữ Miền Nam Việt Nam thân yêu, cho chúng ta những tháng ngày hòa bình trong thời chiến, ngắn ngủi nhưng hạnh phúc vô vàn .

KL (Edmonton Tháng 4/2026)