Từ ngày bị cấm ngồi ăn trong quán mà phải mua “to go” về nhà, lâu dần đã thành thói quen bớt đi ăn hàng, ăn quán. Cho tới bây giờ, mỗi lần tôi sực nhớ “thuyền xưa bến cũ,” có hứng thú muốn ra quán ăn món khoái khẩu, tới nơi chợt nhận ra rằng quán đã “thay thầy đổi chủ” từ đời nào mà tôi không biết. Tự dưng tôi bị rơi vô tình thế “Nhân diện bất tri hà xứ khứ/ Đào hoa y cựu tiếu đông phong.” Thôi thì lỡ trớn rồi tôi cũng bước vô quán luôn, để thử coi chủ mới thì món ăn có ngon hơn món chủ cũ làm hay không.

Bìa tiểu thuyết Từ Hôn của cố nhà văn Hồ Biểu Chánh, in năm 1937 tại Sài Gòn.

Trước hết là thấy quán được trang trí nội thất lại nhìn có vẻ sạch sẽ, mới mẻ hơn nhiều, bồi bàn cũng mới. Chúng tôi vừa bước vô, một cậu trẻ măng nhanh nhẹn bước ra hỏi: “Dạ, bên mình đi mấy người?” Tôi đưa 2 ngón tay ra dấu 2 người. Nó đưa chúng tôi tới bàn ngồi xong lại hỏi: “Bên mình cần gì ạ?” Tôi nghe nó lặp đi lặp lại 2 lần chữ “mình,” làm tôi nhớ câu “Thân thể người ta chia ra làm 3 phần: đầu, mình và tay chân” mà lúc nhỏ tôi đọc được trong cuốn sách nào đó. Những năm ấy, trời nóng nực, tôi thường cởi trần chạy ra chạy vô từ nhà trước ra nhà sau, miệng thì hét tướng lên “Thân thể con người ta…” “Thân thể con người ta…” Tôi trả lời: “Mình không cần gì, nhưng đầu và tay chân thì cần.” Thằng nhỏ đứng nghệt mặt ra nhìn tôi, nó không hiểu tôi nói câu đó là ý gì. Mà làm sao nó hiểu được, ai còn nhớ, còn thuộc câu “Thân thể con người ta…” thì bây giờ đều tầm tuổi tôi trở lên hết rồi, tức là đã chễm chệ ngồi hàng ghế ông bà nội ngoại, mấy ai tuổi hàng 30 trở xuống biết được bài học ấy.

Về nhà, mở máy tính ra lên mạng lướt web, nhìn đâu cũng thấy “Nhà mình,” “Cả nhà ơi.” Ủa, mình với nó lạ hoắc, mình có ở chung nhà với nó hồi nào đâu mà nó cứ nhào vô “Nhà mình” với “Cả nhà”?

Xem thêm:   Lá Thư Từ Kinh Xáng 1 (kỳ 38)

Bèn mở sách cũ ra đọc, thấy chữ “mình” trong tiếng Việt sao mà nó biến hóa thật diệu kỳ. Chưa thấy có quốc gia nào có chữ gì đó tương đương với chữ “mình” trong tiếng Việt. “Mình” vừa là danh từ chỉ phần giữa của thân thể người hoặc động vật (vật chất) vừa mô tả tâm trạng người nói (tinh thần.) Chữ “mình” không phải đại từ nhân xưng nhưng lại dùng như đại từ nhân xưng. Và cũng không có đại từ nhân xưng nước nào vừa là ngôi thứ nhứt số ít, ngôi thứ hai số ít, ngôi thứ nhứt số nhiều như chữ “mình”. “Mình về có nhớ ta chăng? Ta về ta nhớ hàm răng mình cười”. Hoặc “Mình ơi tôi nhớ thương mình/ Mẹ cha chửi mắng chữ tình nặng thêm.” Chữ “mình” trong câu này giữ vai trò đại từ nhân xưng ngôi thứ hai số ít.

Chúng ta hãy cùng nhau thưởng thức cách sử dụng chữ “mình” trong lời nói hàng ngày của người dân Nam kỳ thời thập niên 30, qua ngòi bút điêu luyện của cố nhà văn Hồ Biểu Chánh:

“Cang nằm êm một hồi, rồi nhỏ nhẹ nói với vợ:

– Nếu tôi mất Nghiệp, chắc tôi phải chết quá mình ơi.

– Chuyện gì mà mất lận. Xin mình bình tĩnh mà xử trí, đừng buồn đừng giận chi hết. Mình làm phải, lẽ nào con nó phụ bạc mình.

– Cha nó đã phụ bạc mình đó. Con do máu thịt của cha mà sanh. Tôi sợ e con nó sẽ phụ bạc tôi cũng như cha nó phụ bạc mình trước vậy.

– Còn máu thịt của tôi sao mình không kể? Con của tôi đẻ mà. Nó cũng có một phần máu thịt của tôi  chớ.

– Làm cho Nghiệp nên người, tôi tốn công phu nhiều lắm. Nghiệp từ nhỏ là tâm trí của tôi. Bây giờ trưởng thành rồi, nó là hy vọng của tôi. Vợ chồng mình ăn ở với nhau mấy mươi năm mà không có chút con nào hết. Tuy vậy mà tôi không buồn. Nghiệp sẽ kế chí cho tôi. Nghiệp sẽ cúng quảy tôi. Cầu con làm chi nữa. Bây giờ Nghiệp bỏ tôi mà đi theo cha ruột nó, thì công phu của tôi tiêu tan, hy vọng của tôi bay mất. Làm sao mà níu lại được? Làm sao mà giữ cho được?

Xem thêm:   Miệng Nhà Quan ngày 30 tháng 4 năm 2026

– Có lẽ nào nó đành bỏ vợ chồng mình mà theo cha ruột của nó. Con tôi đẻ, con mình nuôi, chắc nó giống tâm hồn của vợ chồng mình chớ.

– Tôi mong mỏi dữ lắm. Tôi vái van lắm mình ơi.

– Tôi nói thật với mình, nếu Nghiệp nó nhìn Bình là cha nó, thì tôi cấm tuyệt không cho nó thấy mặt tôi nữa, không cho nó kêu tôi bằng má nữa.

– Sao vậy?

– Người ta đã phụ bạc tôi, người ta đã bỏ bê nó, mình cứu vớt tôi mà nuôi dưỡng tôi và dạy dỗ nó, bây giờ nó thành nhân rồi, nó không trả oán cho tôi, nó quên thù của nó, nó trở lại cung kính dưỡng nuôi người ta, quên cả công lao tình nghĩa của mình, con như vậy làm sao mà tôi thương yêu cho được.

– Mình làm như vậy, té ra mình ích kỷ quá, ích kỷ mà lại hẹp lượng nữa. Mình cấm con không được nhìn biết và phải oán thù cha của nó, tôi sợ mình phải mang cái tội làm sái đạo luân thường, vì mình ép con bỏ dẹp niềm phụ tử. Khó lắm mình ơi, tôi lo lắm, vì tôi bối rối lắm không biết đâu là đường phải đi.” (Bức Thư Hối Hận – Hồ Biểu Chánh)

Trong một đoạn văn ngắn miêu tả hai vợ chồng Cang – Huyền nói chuyện với nhau, cố nhà văn đã lặp đi lặp lại tới 21 chữ “mình.” Khi thì nhân vật dùng để chỉ người đối thoại (ngôi thứ 2 số ít,) khi thì hai vợ chồng tự xưng (ngôi thứ 1 số nhiều, tương đương chữ “we” trong tiếng Anh,) mà người đọc hiểu hết, không hề nhầm lẫn ý nghĩa chữ “mình” từng câu đàm thoại.

Xem thêm:   Paris dưới những nhịp cầu

Trong ngôn ngữ nói hiện nay, người miền Nam vẫn xài chữ “tụi mình,” “bọn mình,” người miền Bắc dùng “chúng mình” ở ngôi thứ nhất số nhiều. Riêng câu “Mình đi chơi/ăn…” thì chữ “mình” ở đây vừa là số ít vừa là số nhiều, tùy bối cảnh thực tế. Bạn bè nói với nhau thì: “Mình muốn chia sẻ điều này nhưng ngại…,” chữ “mình” trong câu này là ngôi thứ nhứt số ít.

Đại từ nhân xưng của tiếng Việt rất phong phú, chỉ bằng vào cách dùng đại từ nhân xưng, người nghe hiểu ngay tâm trạng, mức độ tình cảm của người nói đối với nhân vật được đề cập. Nếu quý vị nghe ai đó đang dùng các đại từ: hắn, y, thị, khứa, thì biết chính xác là người nói không có thiện cảm với đối phương. Người miền Nam xài đại từ “mày,” “nó” khó đoán hơn, ghét cũng có thể gọi là “mày,” “nó,” mà bạn bè thân mật, con cháu cũng kêu là “mày,” “nó.” Muốn biết chính xác phải nhìn nét mặt, nghe âm sắc giọng nói của người nói.

Riêng chữ “mình” xài theo nghĩa như một đại từ nhân xưng thì luôn luôn thể hiện tình cảm thân mật, mối quan hệ sâu sắc, thắm thiết giữa những người đàm thoại với nhau. Khi người Việt xưng hô với nhau là “mình” thì có thể hiểu họ đang biểu thị tình cảm dành cho cho nhau ở mức độ “là xương bởi xương tôi, thịt bởi thịt tôi.” “Bởi thế, người đàn ông lìa cha mẹ mà gắn bó với vợ mình, và cả hai thành một xương một thịt.” Thật kỳ lạ, cách đây vài ngàn năm, ở hai phương Đông và Tây lại có cùng chung cách nghĩ về chữ “mình” trong mối quan hệ tình cảm thắm thiết vợ chồng.

Giữa người lạ với nhau mà chạy theo “phong trào” lạm dụng chữ “mình” lung tung nhiều quá, nghe rất kỳ cục và giả tạo. Trong trường hợp này, các tiền bối người Việt lại một lần nữa cho hậu bối thấy sự biến ảo kỳ diệu của chữ “mình”: “Rồng vàng tắm nước ao tù/ Người khôn ở với người ngu bực mình.”

TPT