Thủ Đức, Xuân Trường, khách vắng đông.

Nhất cận thị nhì cận giang. Câu ví của người xưa khi nói đến nơi chốn ta có thể tạo dựng đời sống tốt hơn. Chợ gắn liền sinh hoạt hằng ngày của từng gia đình, là nơi dễ buôn bán kiếm kế sinh nhai. Sông gắn liền việc thuận tiện đi lại khi xã hội chưa phát triển đường bộ. Chợ cũng là nơi quần tụ những người mới đến sinh sống tạo thành thị tứ đông vui. Do vậy, khi nói về đặc điểm của một địa phương, người ta thường nhắc về chợ và tự nhiên trở thành dấu ấn khó phai trong tâm thức của nhiều người.

Theo ghi nhận lịch sử địa dư, năm 1868 khi Pháp chiếm xong Gia Định, tên gọi Thủ Đức mới xuất hiện từ việc tách huyện An Ngãi thành một khu độc lập sát nhập vào tỉnh Gia Định, mang tên khu thanh tra Thủ Đức. Vây, địa danh Thủ Đức xuất hiện từ khi người Pháp đến hay đã có trước đó? Bởi khi ông Tạ Dương Minh tên hiệu Thủ Đức (một thủ lĩnh thiểu số người Hoa trong phong trào “bài Thanh phục Minh” bị nhà Thanh truy đuổi chạy lánh nạn sang Việt Nam xin thần phục nhà Nguyễn và được cho định cư ở vùng đất An Ngãi thuộc tỉnh Biên Hoà) có liên quan gì đến tên chợ Thủ Đức và người Pháp dùng tên Thủ Đức để đặt tên cho một địa danh hành chánh mà không phải là một cái tên khác?

Cũng có thể trước đó đã có cái tên này nhưng trước khi có tên Chợ Thủ Đức thì ngôi chợ này từng mang tên Linh Chiểu do ông Tạ Dương Minh lập nên vào giữa thế kỷ 17. Vậy thì, Thủ Đức là ai? Tên hiệu của ông Tạ Dương Minh hay tên chức quan thủ ngự của một vùng đất có tên Đức như cách lý giải địa danh Thủ Thiêm, Thủ Thừa, Thủ Dầu Một.

Con đường đất gần chợ Thủ Đức (nay là Kha Vạn Cân) thời Pháp chiếm Sài Gòn (Ảnh: Bưu Thiếp)   

Theo Đại Nam quốc âm tự vị của Huỳnh Tịnh Của diễn giải “trại thủ” là đồn bảo vệ an ninh do dân làng lập ra. “Trại” canh giữ đường bộ, còn “Thủ” canh giữ đường sông. Để nhớ công của ông quan thủ ngự canh làng, người dân gọi tên địa danh bằng cách lấy chức quan “trại thủ” ghép với tên của người thủ lãnh hay đặc điểm địa hình, cây cối có quanh doanh trại. Chẳng hạn Thủ Dầu Một thì chẳng có ông quan nào tên Dầu Một mà là ở vùng trại thủ đó có duy nhất một cây dầu.

Xem thêm:   Miệng Nhà Quan ngày 14 tháng 5 năm 2026

Nói chuyện địa dư để có thể hiểu thêm đôi chút về một vùng đất mà con người gắn bó cuộc đời mình trên đó và để gợi nhớ cố hương đối với những người rời xa quê hương nhiều năm như người bạn định cư cùng thành phố với tôi. Người bạn của tôi quê ở Thủ Đức ngay tại phường Linh Chiểu (xưa gọi là làng) nhớ lại ngay bên hông chợ Thủ Đức thuộc phường Trường Thọ hồi trước có từ đường ông Tạ Dương Minh. Rồi sau năm 1984 từ đường được dời về đình Linh Đông thuộc phường Linh Chiểu, nơi đây có ngôi mộ của ông Tiền hiền. Theo anh biết, con cháu họ Tạ cất nên ngôi từ đường này từ năm 1930. Bên trong hương khói được giữ gìn cho đến khi địa phương có kế hoạch dùng mảnh đất từ đường cất lại thành trường mẫu giáo. Ngôi từ đường được tháo dỡ nhưng rồi chẳng thấy trường mẫu giáo đâu, lúc gia đình người bạn đi xuất cảnh năm 1992, mảnh đất trụi lủi kia trở thành bãi gởi xe đạp cho người đi chợ.

Mặc dầu vậy, Việc dời “thần hồn” ông Tiền hiền về gần mộ phần của ông có ý nghĩa hơn là để từ đường nằm ngay bên hông chợ ồn ào không còn tĩnh lặng và tâm linh như ngày xưa nữa. Ngày di dời từ đường dân chúng tổ chức cúng đình lớn lắm. Ngày ấy anh cùng cha mẹ có đi dự lễ cúng đình. Người dân tổ chức lập hương án, khánh thờ rất trang trọng để ghi nhớ công ơn người mở đất phương Nam, lập ra Chợ Thủ Đức phồn vinh cho dân chúng trong vùng có nơi mua bán.

Đình và Chợ Thủ Đức chụp hồi năm 1929 (Ảnh: Bưu Thiếp)

Cúng đình xong, dân chúng kéo nhau ra ngôi mộ của ông Tạ Dương Minh cúng bái, quét dọn sạch sẽ, cây cối chung quanh khi ấy còn nhiều tàn cây mát rượi. Nhưng chỉ được vài năm, dân chúng từ đâu kéo đến mua đất cất nhà bao bọc quanh khiến khu mộ không còn thoáng đãng. Khu mộ rộng trên trăm thước vuông, mả xây hình voi phục tức phần dưới nhô cao và to tròn kiểu hình con voi nằm quỳ (đây là một dạng mộ của người Quảng Đông). Mộ có chạm khắc, phía sau có bình phong, nền lát đá ong, chung quanh bốn phía tường tô. Nghe người am hiểu nói mộ xây bằng ô dước một loại vật liệu xây dựng cứng chắc thời xưa khi chưa có xi măng. Tiếc rằng qua hơn trăm năm, ngôi mộ xuống cấp rêu phong, vữa hồ bong tróc lộ ra những tảng đá ong lởm chởm vết tuổi đời phải cần tu sửa. Anh nhớ lần đầu trở về thăm nhà sau nhiều năm xa quê, đi lòng vòng trong xóm xem sự thay đổi đến mức nào. Và anh ngỡ ngàng cho việc đô thị hoá đã biến phần mộ của ông Tiền hiền trở nên hoang phế từ bao giờ.

Xem thêm:   Một thời đỏ đen

Nghe anh nhắc đến mộ ông Tiền hiền lập nên Chợ Thủ Đức, tôi nhớ không lâu tình cờ nhận thông tin trên facebook của anh Võ Thế Hưng một người dân phường Linh Tây, Thủ Đức kêu gọi việc trùng tu mộ ông Tạ Dương Minh. Ban đầu tôi cứ nghĩ mồ mả ai con cháu họ phải có nhiệm vụ lo toan mắc gì cái ông láng giềng đồng hương ở phường Linh Tây ngó sang Linh Đông la toáng lên thế này. Nhưng nghĩ lại tôi thấy mình sai. Anh viết: “Là con cháu Người Sài Gòn xưa, tôi thấy rằng phải có trách nhiệm ‘gìn giữ cho muôn đời sau’ và ‘ăn quả nhớ người trồng cây’, thành kính người đã có công lập dựng để có vùng đất Thủ Đức trù phú ngày nay. Không vì mục đích vụ lợi nào khác”.

Tất nhiên anh được uỷ nhiệm chính quyền và người dân địa phương chấp thuận cho anh đại diện đứng ra kêu gọi sự đóng góp của các nhà hảo tâm, đồng hương, các tiểu thương Chợ Thủ Đức cùng con cháu họ Tạ, theo dạng xã hội hoá mộ phần Tiền hiền Tạ Dương Minh, được công nhận di tích cấp thành phố. Theo tôi được biết hiện nay việc trùng tu được hoàn tất, mồ mả ông Tạ hiền trông cổ kính như xưa. Việc “ăn cơm nhà vác tù và hàng tổng” của anh Võ Thế Hưng như thế mà hay và ông Tạ hiền có thể ngậm cười nơi chín suối vì người đời còn nhớ đến ông.

Phần mộ của ông Tạ Minh Dương hiệu Thủ Đức và cũng là người lập ra chợ Thủ Đức được trùng tu sau năm 1975 (Ảnh: báo Thanh Niên)

Theo Bảo tàng Lịch sử, hồi năm 1890, người dân Thủ Đức cùng hương chức trong làng tìm được mộ ông ở vùng đất Linh Chiểu. Chẳng biết ông mất năm nào chỉ biết ngày 19 tháng 6 Âm lịch. Mộ phần của ông được hương chức dân làng xây cất lại giữ gìn hương khói. Ông Nguyễn Liên Phong viết trong “Nam kỳ phong tục diễn ca” xuất bản hồi năm 1909 rằng: “Thuở xưa ông Tạ Dương Minh / Lập chợ Thủ Đức tại Linh Chiểu rày / Mả người cải táng nơi đây / Bởi làng xin bạc đổi thay mộ phần / Quan trên niệm nghĩa thi ân / Cho ba trăm rưỡi trùng tân giai thành…”.

Xem thêm:   Ăn cướp

Chợ Thủ Đức trải qua hơn một thế kỷ rưỡi, chắc chắn hình dáng có đổi thay. Tuy nhiên, người bạn quê ở Thủ Đức nói rằng, hồi nhỏ vẫn thường nghe ba má anh nói chợ Thủ Đức từ nào giờ vẫn vậy, hai đầu chợ xây bằng gạch trang trí đơn giản có ba cổng vòm, mái chợ lợp ngói vẩy cá. Nếu nói đây là một ngôi chợ lớn ở Thủ Đức thời trăm năm trước thì đúng nhưng Thủ Đức giờ đây trở thành vùng đô thị hoá nhanh chóng nhường một phần đất cho quận 2 và quận 9. Vùng trung tâm Thủ Đức nơi có chợ Thủ Đức đã thay đổi diện mạo khá nhiều. Riêng ngôi chợ với diện tích khiêm tốn vẫn như xưa và nét sinh hoạt mua bán cũng không thay đổi nhiều.

Người Sài Gòn hoặc các tỉnh thành biết đến Chợ Thủ Đức là bởi nơi này nổi tiếng món nem đặc sản. Chung quanh các dãy phố và các sạp mặt tiền chợ bên đường Linh Chiểu xưa (nay là Kha Vạn Cân) nem được bày bán, treo lủng lẳng từng chùm to hấp dẫn khách thập phương tới lui Thủ Đức. Người bạn của tôi sống ngay Chợ Thủ Đức xem ra rất tự hào khi nghe tôi nhắc đến món nem đặc sản. Anh vui miệng ngân nga: “Ở đâu mà chẳng biết ta / Ta ở Thủ Đức, vốn nhà làm nem”.

Nhà dân ngụ cư quanh chợ Thủ Đức năm 1860 trước khi Pháp chiếm Sài Gòn, Gia Định (Nguồn: Manhhaiflickr)

Nghề nem ở Thủ Đức ngày xưa tập trung quanh vùng Linh Chiểu, Linh Đông, Trường Thọ, Hiệp Bình Phước. “Nem Thủ Đức, rượu Gò Đen” coi như trở thành thương hiệu đặc sản vùng Nam kỳ lục tỉnh khi được người đời nhắc đến. Ông Tản Đà hồi còn làm cho tờ Đông Pháp thời báo đã từng vào Nam kỳ, ghé Thủ Đức mê tít cái thứ nem chua gói lá vông rồi đi xuống Gò Đen nhắm rượu đế cay nồng lại còn đích thân ngâm mình trong làn nước xanh mát của suối Xuân Trường gần làng Linh Chiểu. Trở về Bắc ông thi sĩ nổi danh như cồn này cũng chẳng nhắc tới Tiền hiền Tạ Dương Minh hiệu danh Thủ Đức mà trong đầu chỉ còn vương vấn cái thú ăn uống no say của khách tiêu dao. Ông đề thơ rằng: “Sài Gòn – Chợ Lớn ai qua lại / Thủ Đức – Xuân Trường khách vắng đông”.

Riêng tôi cũng từng có dịp ghé qua Chợ Thủ Đức sau năm 1975, nếm đủ loại nem chua. Tôi có nhận xét thế này: Nem ngon thì cũng có ngon /thịt nem thì ít, lá nem thì nhiều.

TN