Nhà phê bình và nghiên cứu Thụy Khuê đang hoàn tất công trình biên khảo về Truyền Giáo và Quốc ngữ.

Một thế kỷ quốc ngữ là Lời Mào Đầu của tập sách này. [Trần Vũ]

Thụy Khuê

3 kỳ – kỳ 2

Việc khai quật lại di sản chữ Hán

Phải gần 100 năm sau, khoảng 1960, việc dịch các sách lịch sử, biên khảo và văn thơ Hán Nôm mới bắt đầu trở lại, ở Viện Sử Học, Viện Hán Nôm và Viện Văn Học, ngoài Bắc. Trong Nam, trước 1975, việc dịch thuật, không có gì đáng kể.

Để hiểu những khó khăn này, ta cần nhìn qua thời gian thực hiện vài bộ sách chính:

Về lịch sử, bộ Đại Nam Thực Lục, Viện Sử Học bắt đầu dịch từ 1962 đến 2012, mới in xong.

Bộ Đại Việt Sử Ký Toàn Thư, dịch và in từ năm 1985 đến 1992.

Về văn thơ, Viện Văn Học dịch và in 3 tập Thơ văn Trần, từ 1977 đến 1988.

Năm 1974, Đào Duy Anh, trong bài tựa sách Khóa Hư Lục, viết: “Trong thư viện Khoa học xã hội hiện còn 11,795 cuốn sách Hán Nôm, gồm 10,609 cuốn sách chữ Hán (chỉ sách chữ Hán của Việt Nam) và 1,186 cuốn sách Nôm[14].

Những sách này đã dịch được bao nhiêu cuốn? Chúng ta không biết rõ.

Một thí dụ: Cuốn tiểu thuyết lịch sử Nam Triều công nghiệp diễn chí của Nguyễn Khoa Chiêm viết về các chúa Nguyễn, mà Lê Quý Đôn, Đại Nam Thực Lục, Liệt Truyện, Cương Mục, đều phải dựa vào, tác phẩm này tương đương với Hoàng Lê nhất thống chí, viết về chúa Trịnh vua Lê, nhưng ra trước Hoàng Lê nhất thống chí gần một thế kỷ; mà mãi đến năm 2003, mới có bản dịch hoàn chỉnh[15]. Chưa kể giáo sư Ngô Đức Thọ, dịch giả, có lần cho tôi biết: thời trẻ, ông đã phải gián đoạn việc học trong nhiều năm vì lý lịch (ông là cháu nội cụ Ngô Đức Kế), sau lại gặp khó khăn trong việc dịch thuật các sách về nhà Nguyễn. (Như ta đã biết, khi Trần Huy Liệu làm Viện trưởng Viện Sử Học, nhà Nguyễn bị kéo xuống bùn).

Tóm lại, những khó khăn mọi mặt, đã tạo ra một khoảng trống sử học khổng lồ ở nước ta: trong hơn 100 năm, những người viết sử, vì không đọc hay không đọc được sách lịch sử và biên khảo chữ Hán, nên không tiến hành được việc nghiên cứu.

Vì thế, trong nửa đầu thế kỷ XX, chỉ có một cuốn Việt Nam sử lược (1920) của Trần Trọng Kim; nửa sau, có thêm Việt Nam Pháp thuộc sử (1961) và Việt sử xứ Đàng Trong (1969) của Phan Khoang. Đó là những sách sử đáng tin cậy. Trần Trọng Kim và Phan Khoang, đều biết chữ Hán, tham khảo sử của ta, nhưng Phan Khoang cũng đã tin vào lời các giáo sĩ thừa sai và sử gia thuộc địa về “việc cấm đạo” và “bế quan toả cảng”. Thế hệ tiếp nối, như Tạ Chí Đại Trường, hoàn toàn viết theo sự chế biến của sử gia thực dân.

Di sản chữ Nôm

Nước ta có 3 thời kỳ rực rỡ của nền văn học cổ điển:

– Thời Trần (thế kỷ XIII-XIV): Trần Cảnh (Thái Tôn) tác giả Khóa Hư Lục và Trần Khâm (Nhân Tôn, cháu nội), là tổ thứ nhất phái Trúc Lâm Yên Tử, tác giả 2 bài phú Nôm xưa nhất còn lại, cùng các thiền sư Pháp Loa, Huyền Quang, và các tác giả như Trương Hán Siêu, Mạc Đĩnh Chi … đều có thơ văn Hán Nôm để lại.[16]

– Thời Lê, tức thời Hồng Đức (thế kỷ XV), với thơ văn Lê Thánh Tôn, nhóm Tao Đàn, thi hào Nguyễn Trãi; Quốc Âm thi tập chứng tỏ Nguyễn Trãi đã làm “thơ tự do” từ thế kỷ XV.

– Triều Nguyễn, là thời kỳ cực thịnh của văn học, với Cung Oán, Chinh Phụ, Hoa Tiên, Tây Hồ Phú, Truyện Kiều, thơ chữ Hán của Nguyễn Du, Cao Bá Quát …

Hoàng Xuân Hãn nhận dịnh: “Cuối đời Trịnh, đầu đời Nguyễn là thời kỳ văn quốc ngữ [Nôm], văn Việt Nam cực kỳ thịnh. (…) Tiếng quốc ngữ được nổi lên, có nhẽ từ thế kỷ XVII, cho đến đời Minh Mạng. Quãng ấy là thịnh nhất.”[17]

Truyện Kiều là mỏ vàng ngôn ngữ dân tộc, bản thân tác phẩm đã là một “ngôn ngữ” riêng trong tiếng Việt, nhưng phải đọc được chữ Nôm, loại chữ tượng hình, mới thấy hết những khía cạnh biến hóa của mỗi chữ trong Kiều. Đào Duy Anh đã làm từ điển truyện Kiều. Hoàng Xuân Hãn dành 50 năm soạn cuốn Kiều tầm nguyên, tìm lại những chữ đích thực Nguyễn Du viết ra[18]. Ông tìm lại văn bản không kỵ húy đời Gia Long, để xác định là bản xưa hơn cả, và xác định Nguyễn Du viết Kiều thời Tây Sơn. Ông dùng 8 bản Kiều in đời Tự Đức, so sánh từng chữ một, xét lai lịch mỗi chữ, để phân biệt và xác định. Ví dụ, chữ gieo, trong “Vàng gieo bóng nước cây lồng bóng sân” và treo trong: “Giọt sương treo nặng cành xuân la đà”.

Xem thêm:   Nước Pháp chuẩn bị cho thế vận hội mùa Hè như thế nào?

Hoàng Xuân Hãn nói: “Phải biết chữ Nôm, phải hiểu tiếng Việt, phải hiểu tiếng cổ, nhiều khi lại tiếng địa phương là chuyện khác nữa, thì lúc ấy mới hiểu thấu được những chữ ấy. Bởi vì một người như cụ Nguyễn Du, không viết những câu mà nói rằng là viết cho qua chuyện đi, ta hiểu thế nào cũng được cả. Không phải thế. Cụ viết một cách chính xác lắm. Chỉ là mình đọc không đúng mà thôi.”[19]

Việc làm của Hoàng Xuân Hãn không chỉ để tìm lại văn bản gốc, mà còn giúp chúng ta hiểu tiếng Việt thế kỷ XVIII của Nguyễn Du. Vì vậy, muốn hiểu tiếng Việt thế kỷ XV, cần có sự nghiên cứu văn bản học tương tự về Quốc âm thi tập của Nguyễn Trãi.

Kiều tầm nguyên của Hoàng Xuân Hãn, mãi đến nay mới được Nhã Nam, sửa soạn xuất bản, nghĩa là sau khi vị học giả qua đời (1996) 27 năm.

Vua Khải Định và hoàng tử Tây học Bảo Đại

Tình hình nghiên cứu văn xuôi

Người Việt ngày nay không biết mình có bao nhiêu truyện ngắn, truyện dài, viết bằng chữ Hán, chữ Nôm, chưa được dịch hay phiên âm sang chữ quốc ngữ.

Vì không có truyền thống giữ gìn nguyên bản, nên mảng văn Nôm truyện ngắn, truyện dài của nước ta, nay đã thất truyền, một phần vì giới trí thức nho học coi thường văn Nôm nên không lưu trữ, hoặc có mà vẫn còn nằm trong tủ bụi của Viện Hán Nôm hay một thư viện công, tư nào khác, chưa được đọc đến.

Sở dĩ, chúng tôi tin là chúng ta có truyện ngắn, truyện dài, tiểu thuyết, như người Tầu, người Nhật, vì dựa trên hai dấu hiệu rõ ràng:

1- Bài tựa Thiền Tông chỉ nam ca của Trần Thái Tôn (tác phẩm này đã mất, nhưng bài tựa vẫn còn), đích thực là một truyện ngắn. Thái Tôn kể lại chuyện mình: Đêm 3 tháng tư năm Bính Thân (9-5-1236) (18 tuổi) bỏ cung điện, trốn lên núi Yên Tử đi tu. Trần Thủ Độ phải đem triều đình lên ăn vạ, rước về. Tác phẩm đầy đủ tính chất của một tự truyện hiện thực, có giá trị lịch sử và ngụ ý sâu sắc triết lý đạo Phật: “Trong núi không có Phật, Phật ở trong lòng” qua lời vị thiền sư chùa Trúc Lâm Yên Tử khuyên nhà vua trẻ.[20]

2- Mảng truyện Nôm công giáo, là một kho tàng chưa khai thác. Giáo sư Hoàng Xuân Hãn, năm 1953, khi giúp thư viện quốc gia Pháp làm thư mục, đã viết bài “Girolamo Majorica, tác phẩm bằng tiếng Việt của ông được lưu trữ tại Thư viện Quốc gia Pháp (Girolamo Majorica, ses oeuvres en langue vienamienne conservées à la Bibliothèque Nationale de Paris)[21].

Linh mục Thanh Lãng, cuối đời, cũng tha thiết nhắc đến mảng truyện Nôm này: “Câu truyện Tiêu-du-la hay Thêu-do-ra hoặc Théodora (…) nằm trong bộ truyện viết bằng chữ Nôm dài 1,673 trang, gồm trên dưới 500 truyện mà truyện Tiêu-du-la hay Thêu-do-ra hoặc Théodora chỉ là một truyện cụ thể rút ra từ khối 500 truyện kia”. Bộ truyện này đã được Majorica biên soạn trong khoảng thời gian từ 1632 đến 1638, tức là cách đây hơn 350 năm”  tại Kẻ Rum (Nghệ An)[22].

Xem thêm:   Chung quanh sự mất dấu của Thầy Thích Minh Tuệ

Mới đây, qua điện thư, giáo sư Nguyễn Huệ Chi cho tôi biết: khoảng 2002-2003, ông có dịp tiếp xúc với linh mục Nguyễn Hưng ở Sài Gòn, người đã có cả bộ photocopy nguyên bản truyện Nôm và đang nhờ cụ Võ Văn Kính, một nhà Nôm học giỏi, phiên âm ra quốc ngữ. Nguyễn Huệ Chi mua được một số bản, cả Nôm cả quốc ngữ, nhưng sau khi về Hà Nội, ông được tin linh mục Nguyễn Hưng qua đời, nên công trình bị bỏ dở. Trong bài viết tựa đề “Thử tìm vài đặc điểm của văn xuôi tự sự quốc ngữ Nam Bộ trong bước khởi đầu”, Nguyễn Huệ Chi cho biết những thông tin về bộ sách này:

“…Kho Truyện các Thánh  đồ sộ mà chứng tích xưa nhất hiện còn là bộ sách cùng tên do Jéronimo Maiorica (vị cha cố người Italia, 1591-1656) đứng tên tác giả, hoàn thành từ 1646, đến nay còn giữ được 4,200 trang (…) gồm nhiều truyện kể ly kỳ về sự tích các ông Thánh cả Tây lẫn Đông. Xét về thủ pháp, huyền tích Thiên chúa giáo được sử dụng ở đây cũng như các môtip kỳ ảo trong thể loại tiểu thuyết truyền kỳ Đông Á, nhằm minh họa con đường “xả thân đắc đạo” của những người một lòng theo Chúa Giêsu, giống hệt loại truyện “linh dị ký” của văn học Phật giáo Nhật Bản thời Cổ trung đại. Theo Linh mục Tiến sĩ Nguyễn Hưng thì “mỗi câu chuyện được coi như một đoản thiên tiểu thuyết … Nhiều truyện na ná như Tê-lê-mặc phiêu lưu ký. Nhiều truyện giống như truyện Đức Phật Thích Ca xuất hành ra 4 cửa thành. Không thiếu những truyện tương tự như truyện Phật bà Quan Âm Thị Kính.

Điều đáng nói là kho “Truyện các Thánh” không phải sau Maiorica thì chấm dứt mà còn được nối tiếp cho đến hết thế kỷ XIX, chẳng hạn bộ Sách Thánh  của Cha Dominique Martigia thu thập và công bố năm 1848 cũng phải trên dưới 2,000 trang, hay bộ Sách truyện các Thánh  của cố Joseph Marie Bigollet Kính tổng hợp nhiều bộ sách trước đó và công bố năm 1905 cũng không dưới 1,500 trang… [23].

Bích chương thời Pháp thuộc trong thế kỷ 19

Vậy, hiển nhiên chúng ta có kho truyện Nôm đạo rất lớn chưa được tìm hiểu, phân tích, và trình bày cho công chúng. Truyện Nôm đạo có thể coi là tiểu thuyết bình dân, gần với tiếng nói, khác với ngôn ngữ văn chương của các thi hào.

Nhưng sách đạo, thường không được người ngoại đạo chú ý; tệ hơn, vì đã từ hơn 100 năm nay, chúng ta không quan tâm đến chữ Nôm, vì nhiều người coi những gì không viết bằng quốc ngữ, không phải là văn học!

Thêm một định kiến sai lầm nữa, cho rằng: chỉ Châu Âu mới có truyện ngắn, tiểu thuyết hư cấu. Không. Không phải vậy! Tây Du Ký của Ngô Thừa Ân là một kiệt tác hư cấu, vượt Don Quichotte của Cervantes trên nhiều phương diện. Khi chúng tôi hỏi học giả Hoàng Xuân Hãn về truyện Kiều của Thanh Tâm Tài Nhân, ông bảo đó là một tiểu thuyết hiện thực xã hội tả chân rất kỹ như Balzac.

Nữ sĩ Murasaki Shikibu viết trường giang tiểu thuyết Truyện Gengi bằng chữ Nhật (tức là chữ Hán đọc thành tiếng Nhật) từ thế kỷ XII, đó là cuốn tiểu thuyết đầu tiên của nhân loại, với giọng văn đầy chất thơ: “Ánh trăng mồng bảy khắc những tia nhợt nhạt trên gương hồ. Trong mùa buồn bã, nhánh cây mập mờ phủ lá, những dây hoa võng trên cây tùng hình thù đặc biệt, thân nghiêng, đỉnh cao chót vót, phô bày một quang cảnh quyến rũ khác thường”[24]Lối văn phong tinh tế tuyệt vời này đã ảnh hưởng sâu sắc đến Kawabata sau này. René Sieffert, dịch giả tiếng Pháp, tự hỏi có nên gọi Murasaki là Marcel Proust Nhật Bản hay phải gọi Marcel Proust là Murasaki Pháp?

Xem thêm:   Hiện tượng Duyên Anh (kỳ 7)

Phải đợi đến khi nước Nhật trở thành một cường quốc, rồi tình trạng dịch thuật và giao lưu văn hóa mở mang hơn, thế giới mới đọc Truyện Genji và thấy giá trị của Murasaki.

Được như vậy, bởi vì người Nhật và người Tầu không bị đổi chữ viết, cho nên họ có một nền văn học và nghiên cứu cổ văn liên tục, không trải qua 100 năm gián đoạn như chúng ta.

(còn tiếp 1 kỳ)

[14] Khóa Hư Lục của Trần Thái Tôn, Đào Duy Anh phiên dịch và chú giải, Nxb Khoa Học Xã hội, Hà Nội, 1974, trang 5.

[15] Giáo sư Ngô Đức Thọ, dịch giả, một trong những chuyên gia Hán Nôm hàng đầu của ta, bắt đầu dịch Nam Triều công nghiệp diễn chí từ năm 1986, trải các năm, 1987, 1990, 1994, ông đều in các bản dịch đã chỉnh sửa theo các văn bản mới khám phá, phải đến năm 2003, mới có bản cuối cùng.

[16] Trần Cảnh (Thái Tôn), đánh quân Mông Cổ lần thứ nhất với Trần Thủ Độ (1258), tác giả Khóa Hư Lục. Trần Tung (Tuệ Trung Thượng sĩ, con Trần Liễu, anh Trần Hưng Đạo) và hai con của Thái Tôn: Trần Hoàng (Thánh Tôn) và Trần Quang Khải, đều là nhà thơ. Trần Khâm (Nhân Tôn), hai lần đánh quân Mông Cổ với Trần Hưng Đạo (1285 và 1287-1288) và là Tổ thứ nhất của phái Trúc Lâm Yên Tử, tác giả hai bài phú Nôm đầu tiên, tìm thấy: Cư trần lạc đạo và Đắc thú lâm tuyền thành đạo. Anh Tôn, Minh Tôn, Nghệ Tôn đều có Ngự tập. Chưa kể các tướng Phạm Ngũ Lão, Trần Khánh Dư, đều làm thơ, các nhà sư lớn Pháp Loa, Huyền Quang Lý Đạo Tái, và các tác giả khác như Nguyễn Thị Điểm Bích, Đoàn Nhữ Hài, Trương Hán Siêu, Mạc Đĩnh Chi … đều để lại thơ Nôm và thơ chữ Hán.

[17] Nói chuyện với Hoàng Xuân Hãn và Tạ Trọng Hiệp, Nxb Văn Nghệ, California 2002, trang 194.

[18] Theo Hoàng Xuân Hãn: Kiều đã được chép đi chép lại nhiều lần trước khi in, mỗi lần chép người ta lại sửa một vài chữ theo ý mình, chưa kể, khi đem vào Huế, các ông hoàng thời Minh Mạng, nổi tiếng hay chữ, lại càng thích sửa.

[19] Nói chuyện với Hoàng Xuân Hãn và Tạ Trong Hiệp, Nxb Văn Nghệ, California2002, trang 215.

[20] Thơ văn Lý Trần, tập II, trang 27-29, Nguyễn Đức Vân và Băng Thanh dịch.

[21] In trong Archivum Historicum Societatis Iesu, 22, 1953, trang 203-214.

[22] Thanh Lãng, Thử thiết lập hồ sơ về hai người con gái:một con của Phật, một con của chúa, in trong cuốn Về sách báo của tác giả công giáo (thế kỷ XVII-XIX), trang 6, do Nguyễn Văn Trung tập hợp các bài viết của Thanh Lãng, Võ Long Tê, Phạm Đình Khiêm, Nguyễn Văn Trung, Đỗ Như Thắng, Nguyễn Nhã, Trần Thái Đỉnh, Trần Thanh Đạm, Hoàng Châu Ký, Nguyễn Lộc, Cao Xuân Hạo, Tài liệu tham khảo, do Trường Đại Học Tổng Hợp TP Hồ Chí Minh in năm 1993. Trong cuốn sách này có những bài đáng chú ý: Trích bài Thanh Lãng nghiên cứu đối chiếu truyện Tiêu-du-la (Théodora) của Majorica với Quan Âm Thị Kính; Võ Long Tê giới thiệu Thiên Chúa Thánh Giáo Khải Mông của Majorica. Nguyễn Văn Trung giới thiệu Sấm truyền ca của Lữ Y Doan, và Võ Long Tê, Phạm Đình Khiêm giới thiệu: Phi Năng thi tập, thơ quốc ngữ, của Thánh Phi-Li-Phê Phan Văn Minh.

[23] Nguyễn Huệ Chi Thử tìm vài đặc điểm của văn xuôi tự sự quốc ngữ Nam Bộ trong bước khởi đầu, (24-4-2002-15-5-2006, in trong Văn học cổ cận đại Việt Nam từ góc nhìn văn hoá đến các mã nghệ thuật, trang 804-819.

[24] Trích dịch Le dit du Genji (Truyện Genji), bản dịch tiếng Pháp của René Sieffert, nxb Publications Orientalistes de France, 1999, trang 617. Xem bài Từ Murasaki đến Kawabata của Thụy Khuê, trên site: thuykhue.free.fr.