“…Chỉ là những câu chuyện vụn vặt được chắp nối qua những mảnh đời dân quê miệt kinh rạch hầu san sẻ cùng bạn trẻ, những người chưa hoặc không có dịp sống gần gũi với dân ruộng về các miền kinh rạch ấy như một nét đặc thù của văn minh Việt bên cạnh một nếp “văn minh miệt vườn” khá sung túc, trù phú…” (Hai Trầu Lương Thư Trung).
Luôn tự nhận mình là một “người nhà quê”, nhưng ai cũng hiểu là cách nói khiêm cung của một học giả, kiến thức quảng bác, như bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc trìu mến nhận định “Nó là văn chương miệt vườn. Sau này muốn biết về miền Nam mưa nắng hai mùa ra sao thì phải đọc Sơn Nam và Hai Trầu thôi.”.
Mời bạn cùng chúng tôi dạo chơi cùng mưa nắng miền Nam…

(tiếp theo)
Năm nhuần tháng hạn
Kinh xáng Bốn Tổng ngày… tháng 6 năm 2004
Chú Tám Thanh,
Nay là bước qua tháng năm âm-lịch rồi chú Tám, vì năm nay nhuần hai tháng Hai, nên nắng hạn quá mạng chú Tám à! Ông bà xưa có nói “năm nhuần tháng hạn”. Mà trong trời đất, tiết Hạ như thuận với lẽ tuần-hoàn của tạo-vật hơn, nên nắng dai hơn mọi năm nghe chú. Do vậy mà dân ruộng tụi tui tin người xưa nên năm nào có tháng “nhuần”, cứ y như mùa-màng cứ lai-rai mà mần, không vội-vàng gấp-gáp gì cho lắm. Và tui lại có câu-chuyện này muốn kể cùng chú vì sắp nhỏ bên kinh xáng này nó lo chạy theo đời nên cũng ít chú tâm mà nghe chuyện người già. Thôi thì, đời nào sanh ra con người đời ấy vậy! Tui nhớ đến chú khoái chim-chóc, nên tui lui-cui viết mấy hàng này bày-tỏ cùng chú để giải-khuây giữa cơn nắng hạn tháng năm âm lịch này vậy mà!
Số là biết liệu cơm gắp mắm, nên hồi mới khai mở đất lâm, tui mới lựa vùng nào có nhiều lung vũng là cha con tui mới đem hết sức bình sinh ra phá lâm làm ruộng. Vì vùng đất nhiều lung như vậy làm ruộng có hơi khó, nhưng bù lại lúa đất lung lại chắc hột; mà cá tôm lại quây-quần về lung trú ngụ dữ lắm. Thành ra, sau mùa cắt gặt, ở ruộng vùng tui là tới mùa tát đìa, làm lóng, tát mương. Mà cá thì khôn giàng trời mây, nó đâu có chịu lên đất gò, thảy thảy đều dồn xuống lung ráo trọi chú Tám à. Và nhờ vậy nên mùa đìa năm nào tui cũng có mắm mà ăn với cơm gạo lúa nàng tây mới giã chày ba còn lức lức để sống đắp đổi qua ngày. Cho tới bây giờ đầu bạc răng long như ngày nay là nhờ liệu cơm ngày trước khi mới bắt đầu cắm sào ngay cái bến kinh xáng, chỗ cái nhà tui bây giờ đó chú Tám!
Chú biết hông, năm nào tới mùa lúa gần chín, là tui lui cui vạch lỗ lúa cắm câu nghe chú. Tháng chạp, tháng giêng là cá bắt đầu già rồi; nếu chú cắm câu bằng mồi ốc, mồi cua, thì ôi thôi, cá lóc con nào con nấy cái đầu bằng đầu gối, vẩy đen ngòm, khi nó phập phải miếng mồi rồi, cái miệng mắc tòn ten cái lưỡi câu đúc, cứ thế mà lôi nhợ câu bán mạng, quấn vô gốc lúa làm đục nước một vùng bằng cái thúng giạ. Chỉ cực muỗi mòng chút đỉnh vậy thôi mà cá gánh dìa cả giỏ đầy nhóc.

Vườn cò Bằng Lăng Cần Thơ – nguồn zoomtravel.vn
Nơi đất lung, cá nhiều thì chim muông cũng nhiều. Đó cũng là lẽ sinh hoá theo nhau mà có. Đất lành chim đậu mà! Đất lung đối với dân ruộng là quý; đối với các loài chim càng quý vô cùng. Vì ở đó có đủ loại cá tép, ốc, cua như một cái lẫm chứa đủ các thứ mồi màng và còn cái tiện nữa là chim cò không sợ khát nước; mà quan trọng nhứt ở đó còn có lúa cao phủ kín một vùng tiện bề cho việc lót ổ đẻ trứng vui thú một đời mà không lo mỏi cánh bay xa…
Mà nói đến chim chóc ở ruộng là phải nói đến “cái cò, cái vạc, cái nông” phải hông chú Tám. Không nói giấu gì với chú, đời sống ở đồng bái này một ngày nào đó mà không còn thấy bóng dáng những đàn cò bay lượn lờ trên trời vào mỗi buổi chiều xuống là cứ y như rằng lòng mình bâng khuâng buồn nhớ những ngày!!! Nhớ cảnh thanh bình, nhớ thời đạm bạc mà xum vầy, nhớ những bữa cơm ngồi trên chiếc đệm rách ngoài bờ tre mà vui thú cày bừa… Cò dìa như thuyền buồm đi xa dìa, những cánh cò trắng từ từ xếp lại rồi mới chấp chới trên một chòm tre nào đó dừng bước giang hồ, ngơi nghỉ sau một ngày lặn lội trên vũng trên lung mò cua bắt ốc. Một đàn cò trắng, rồi một đàn cò trắng, hằng hằng lớp lớp rủ nhau dìa đậu rợp các vườn tre. Vui thú biết là bao!
Vậy mà rồi, cái giống chim trời cá nước ấy, dân ruộng tụi tui tưởng chừng không khi nào có ai có thể làm cho nó bị tản lạc hết được. Thế mà nó lại tản lạc ráo trọi nghe chú. Ngày nay, năm thì mười họa mới thấy bóng dáng vài con cò trắng bay ngang qua vùng kinh xáng Bốn Tổng này. Đặc biệt, nơi xứ tui ngày nay cái giống diệc mốc, diệc lửa, gà đãi, vạc, nông gì gì cũng hổng còn chú Tám à! Bỗng bóng xưa hơn nửa thế kỷ mới qua thôi mà những giống chim trời này trở nên hiếm quí quá mạng!
Nhiều lúc buồn nhớ ngày xa xưa ấy, tui mới nghĩ cách là mình dụ khị mấy con diệc mốc dìa cánh đồng mình chơi. Tui mới mua dìa vài con diệc làm bằng đất sét từ bên Tàu để dài dài theo cái miệng đìa trên vạt đất lung. Làm chơi vậy mà linh nghe chú. Chỉ vài ba ngày sau là có chú diệc mốc từ đâu bay vòng vòng rồi sà xuống gần bên con diệc giả đứng bất động bên thềm đìa. Chú diệc thiệt này thấy chú diệc giả sao cứ đứng lặng thinh hoài, nó mới bèn bước nhè nhẹ xem coi cá mú có động tĩnh gì hông. Và rồi nó nhận ra, cá thì có, bông súng có, bông sen có, lục bình rau dừa đều có nhưng sao chú diệc đứng đây hoài mà không tìm mồi, xem ra cái bầu dìu chú diệc mốc đứng sẵn đây từ hồi nào coi mòi còn lép xẹp. Chú diệc trời này hơi nghi nghi chủ ruộng không biết có cắm câu gài bẫy cò-ke gì hông. Nó mới bước vài bước nữa và y như rằng đìa cũ mà yên, ruộng xưa mà mát, cá tép lội đầy, thế là được một bữa no.
Ngồi rình con diệc mốc trong trại ruộng cất gần bờ kinh, tui mới thấy trong trời đất, mình muốn dụ loài nào cứ lấy ngay loài đó ra mà dụ. Chẳng hạn như muốn dụ cò ma, diệc mốc, cu cườm, quốc lũi, trích cồ, gà nước, gà đãi thì cứ nuôi mấy cái giống chim chóc đó làm mồi chú Tám à. Còn muốn hù nhát cho nó bay đi thì cách hay nhứt là mình dùng mấy con nào dữ dằn hơn nó là nó sợ mà bỏ đi liền hà! Chính vì vậy mà ở nhà quê tui, mỗi khi bầy gà con vừa mới nở trên ổ, muốn khi xuống ổ mà khỏi bị qụa nó xớt, thì cách hay nhứt là mình lấy cái vỏ dừa khô làm dáng con diều rồi treo lủng lẳng nơi chuồng gà là nó hoảng hồn hết dám chập-chờn bén-mảng tới lui. Quạ sợ diều mà mặc dù hồi đời năm nẳm quạ diều cùng rủ nhau dìa cù lao Ông Chưởng sông sâu đồng lớn có nhiều cá tôm!!!

Chim áo già – nguồn youtube
Trở lại chuyện chú diệc mốc này dìa ruộng xưa, lòng mình cũng theo cái bóng xưa mà vui biết mấy nhe chú! Nhưng khi nó vớt một bụng cá tép vào đầy cái bầu dìu rồi, tui mới nghĩ bụng thế là mình lại mắc bẫy con diệc mốc này rồi chứ con diệc không bị mình gài bẫy. Tự dưng thời buổi khó khăn, cơm khô mắm gáo mà lại nuôi thêm một miệng ăn chùa này quả là mình làm mình chịu rồi. Giả tỉ như bây giờ mà mình gài bẫy cò-ke bắt được nó đi, thì lấy mồi đâu nuôi nó cho nổi. Còn nếu rình lấy nạng giàng-thun mà bắn nó, thì lại mang tội với chim muông. Nên tui phân vân quá, không biết tính sao. Nửa đêm thức giấc, tui mới nhớ ra hồi làm lúa sốc-so, một giống lúa mùa nhưng lúa này không cao giàn và chín sớm vào khoảng tháng chín âm-lịch, chim áo già bu quanh đám lúa hằng ngàn, hằng ngàn con ăn lúa rào rào như giặc châu chấu, tụi tui hồi đó còn nhỏ, không làm sao đuổi chim cho kịp. Mấy ông anh tui mới lấy mấy cái áo rách, rồi căng ra làm hình nộm, thêm cái nón lá trên đầu; vậy mà rồi cắm dài dài giữa miếng lúa sốc-so đang trổ bông sái mùa này, thế mà chim chóc dạt ra ráo trọi nhe chú. Và tui bắt chước làm y như hồi đời trước, cũng làm cái hình nộm cắm bên thềm đìa, vậy mà rồi chú diệc mốc ghé chơi vài ngày bên miệng đìa dưới vạt đất lung của tui lại thêm một bận tha hương nữa rồi chú Tám à! Không còn con diệc mốc lui tới nữa, tui bây giờ cũng gom góp mấy cái hình nộm mà tui đem ra xài đỡ bên thềm đìa theo câu chữ người xưa “điểu tận cung tàng”vậy!!!
Chú Tám Thanh,
Trên đây, tui kể qua với chú về việc “hết chim thời cất cung”. Tui mới sực nhớ chuyện đời xưa Từ-Thức lấy Giáng-Hương rồi nhớ trần gian quá muốn dìa thăm, nhưng chưa đi được bèn hay đề thơ. Chỗ Giáng-Hương ở có bức bình-phong màu trắng và Từ-Thức hay đề thơ lên đó, và tui nhớ có câu như vầy:
“Nhất điểu mộ xuân phi bất tận
Liên không đạm tảo bích du du.”
Và đời xưa ông nội tui có dịch ra như vầy:
“Xuân muộn con chim bay lạc lõng
Vòm không quang sạch biếc làu-làu.”
Một con diệc mốc về thềm đìa mấy bữa rồi đi bặt luôn tới nay, không thấy tăm hơi gì, không biết có phải hồn Từ-Thức đời xưa nhớ ruộng mà dìa thăm chăng?!? Chuyện đời thực hư làm sao ai dám chắc được phải hông chú Tám???
Nay thư,
Hai Trầu
Tết Ất Dậu
Kinh xáng Bốn Tổng, ngày mùng năm Tết Ất Dậu
(nhằm ngày13-2-2005)
Chú thím Út sắp nhỏ,
Hôm nay ngày mùng Năm Tết rồi chú Út à! Lật bật rồi ngày tháng cũng qua cái vù như gió thổi mây bay, lẹ quá mạng! Hồi đời ông bà mình còn sống, tui với chú còn nhỏ xíu, ở kinh xáng Bốn Tổng mình ăn Tết lâu lắm, qua khỏi mùng Bảy tháng Giêng mới hết Tết. Chứ đâu có như bây giờ Tết nhất gì mới sáng mùng Một lại lội ruộng lội đồng xịt thuốc sâu ba cái lúa thần nông rần trời.
Hồi đời trước, Tía mình làm lúa mùa, trâu bò cày bừa cực khổ lắm để khai mở đất lâm, nên nhớ ơn loài vật giúp mình, tổ tiên xưa mới nghỉ Tết lâu để cho trâu bò đuợc nghỉ cho lấy lại sức lực. Chẳng những vậy mà còn có Tết Trâu Bò nữa đó chú. Nhà nông mang bánh tét bánh cắp ra lột vỏ cho sạch rồi mời trâu ăn bánh sau khi cúng thần chuồng thần trại cho trâu bò mạnh giỏi. Chứ quanh năm cứ bắt nó hì hục cày bừa hoài, rồi cứ khuyên “trâu ra ngoài ruộng, trâu cày với ta” để rồi “bao giờ cây lúa còn bông, thì còn ngọn cỏ ngoài đồng trâu ăn”, thiệt tình tội nghiệp kiếp bò trâu quá mạng. Tưởng có được mùa lúa trúng, chủ cho mình hột lúa hột gạo, ai dè chỉ cho ăn “cỏ ngoài đồng”!!! Mà lúa trúng rồi, cỏ làm gì mà còn được chú Út. Lúa với cỏ là khắc mà. Hễ còn cỏ thì lúa thất, mà có lúa thì cỏ bị diệt. Cỏ và lúa không thể cùng một lúc mà tốt tươi trên cùng miếng đất màu mỡ được.
Bài ca dao xưa có nhiều ví von ẩn dụ trong đó chú Út à. Đâu có nhà nông nào bạc đãi loài vật giúp mình có hạt ngọc của trời. Chú còn nhớ mấy năm bò trâu bị “rộn”, ông ngoại mình có một bầy trâu ba bốn chục con, nhưng khi chúng bị đau lưỡi không kiếm được cây chuối tiêu trị bịnh dịch này kịp thời, trâu của ông ngoại chết hai ba con một lượt, ông ngoại đâu cho ai ăn thịt trâu đâu chú.

Cúng chuồng trâu bò nhân ngày Tết
(còn tiếp)








