“…Chỉ là những câu chuyện vụn vặt được chắp nối qua những mảnh đời dân quê miệt kinh rạch hầu san sẻ cùng bạn trẻ, những người chưa hoặc không có dịp sống gần gũi với dân ruộng về các miền kinh rạch ấy như một nét đặc thù của văn minh Việt bên cạnh một nếp “văn minh miệt vườn” khá sung túc, trù phú…” (Hai Trầu Lương Thư Trung).

Luôn tự nhận mình là một “người nhà quê”, nhưng ai cũng hiểu là cách nói khiêm cung của một học giả, kiến thức quảng bác, như bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc trìu mến nhận định “Nó là văn chương miệt vườn. Sau này muốn biết về miền Nam mưa nắng hai mùa ra sao thì phải đọc Sơn Nam và Hai Trầu thôi.”.

Mời bạn cùng chúng tôi dạo chơi cùng mưa nắng miền Nam…

(tiếp theo)

Chú có còn nhớ thi sĩ Đông Hồ, thuộc đất Hà Tiên, cách bến sông chú rời bờ vượt biển năm xưa không xa lắm, góp phần làm thành một luồng văn học Hà Tiên. Đây, thử ghi lại bài Mừng Xuân của Đông Hồ tiên sinh để chú thưởng lãm:

“Không quá khứ, không vị lai,

Thời-gian xuân giữ thắm tươi hoài.

Từ lâu xanh vẫn mơn vành liễu,

Và mãi vàng luôn đượm cánh mai.

 

Cuộc thế mị thường cơn mộng lớn,

Nguồn xuân bất tận suối thơ dài.

Làm chi năm một lần khai bút,

Bút đã khai từ thiên địa khai.”

(Xuân bất tận)

Nhà thơ Đông Hồ 

Một nhà thi sĩ khác, Vũ Hoàng Chương, mà trên chỗ “Phật Tử Gia Trang” có mở lời kêu gọi từ thiện quyên giúp bà Vũ Hoàng Chương đang lâm trọng bịnh, như một nhắc nhở công lao với văn học nước nhà và tưởng nhớ đến thi sĩ nhân ngày đầu Xuân, và cũng để gợi lại lời kêu gọi của các bậc giàu hằng tâm hầu nhớ chút ơn người thiên cổ giúp người già khốn, tui xin ghi lại chú mấy hàng thơ Xuân của Vũ Hoàng Chương tiên sinh, để chúng mình cùng lắng lòng nghe người xưa nghĩ về Xuân:

“Bên trời vẳng báo xuân sang,

Giữa khi Hợp-Phố mơ màng về châu.

Gác nằm hiu-quạnh bấy lâu,

Nửa đêm chợt nổi cái sầu Cô-Tô.”

(Xuân Báo Nửa Đêm)

Nhưng có lẽ cũng nên ghi lại cảnh ngày Tết ở làng quê qua bốn câu thơ của Anh Thơ, một thi sĩ khá xa với đời tui, đời chú, nhưng rất gần với mình qua tính đôn hậu, mộc mạc, chân tình quê mùa của nơi kinh xáng Bốn Tổng này, để chú nhớ lại đêm trăng “gánh củi về ngang núi” ngày nào:

“Trong nhà đỏ bàn thờ nghi-ngút khói,

Những đàn bà tíu-tít chạy bưng mâm.

Lũ con trẻ vui mừng thay áo mới,

Bên ông già hương nến quá chuyên tâm.”

(Ngày Tết)

Nhà thơ Vũ Hoàng Chương

Trước khi dừng bút với lá thơ lâu viết nên khá dài này, tui chợt nhớ chú cùng quê Quảng Nam với nhiều nhân tài thơ văn lỗi lạc; điển hình là một nhân tài, không ai mà không biết thuộc đất Quảng Nam là Phan Khôi tiên sinh qua bài thơ “Tình Già” hồi trước, cũng như qua các cuộc luận bàn của cụ với Trần Trọng Kim về Nho Giáo ngày xưa, trong tủ sách cũ của ông nội tui còn lưu giữ lại mấy bài thơ này, nhân cụ có bận xuống miệt Tân Trào, thuộc vùng đất Bạc Liêu, Cà Mau vào năm 1927, rồi làm ra, tui lục chép lại ra đây, để chú thấy người nghệ sĩ không tự bó hẹp lòng mình nơi đất địa nào, miễn là có cảm thì có hứng, có hồn thì có mộng, có thương thì lòng mới khôn nguôi hoài cảm vậy. Và cũng để cho thấy, không chỉ có mỗi một mình Sơn Nam là biết “hương rừng Cà Mau”, mà cái hương quê đất nước là của chung của mọi người không phân biệt anh Quảng Nam tui Cà Mau, chị Long Xuyên tui Rạch Giá…Ai ai cũng có thể nghe văng vẳng tiếng hồn thiêng của quê cha đất tổ vọng lại đời đời… Phải vậy hông chú Tám?

Xem thêm:   “Ngáo Thiếu Lâm tự”

“Eo đất vắt rừng già ra nước,

Thành con sông xanh biếc dài ghê.

Khỉ ho cò gáy tư bề,

Ai đem ta đến chốn này mà chi?”

Cảnh nhớ người và người nhớ cảnh là vậy chú Tám à!

Thời nào, đời nào, người với cảnh, cảnh với người luôn gắn bó mật thiết lắm, khó ai có thể cắt rời ra được. Và bắt chước tiền nhân, tui muốn nâng ly rượu cùng chú và bằng hữu chốn xa để cùng chúc nhau được nhiều mùa Phúc-Lộc vậy.

 

Thôi xin dừng bút nơi đây, gởi chút tình với người tri kỷ năm xưa và xin hẹn buổi tao phùng bền bờ kinh xáng Bốn Tổng với gió nồm từ hướng Rạch Giá, Hà Tiên thổi mát một vùng ruộng đồng bát ngát bao la bất tận, để anh em mình có dịp nhâm nhi vài ly rượu nếp thiệt ngon mà ngâm nga mấy vần thơ cổ, vui bạn, vui đời….Thăm chú thím và sắp nhỏ mạnh giỏi. Chú cho tui gởi lời thăm mấy thầy bữa trước gởi lời thăm tui với lời chúc mừng mọi người nhàn hạ, an vui.

 

Nay thư,

Hai Trầu

Vài ba chữ “cũng”

Kinh xáng Bốn Tổng ngày… tháng 03 năm 2004

 

Vài hàng gởi thăm chú Tám Thanh sắp nhỏ,

Dường như lâu lắm, tính có hơn bốn năm tháng nay, tui mới rảnh ngồi viết mấy hàng này gởi qua thăm chú thím Tám sắp nhỏ cùng bà con bên ấy được khỏe mạnh. Có sự trễ nải như vậy cũng vì mấy cái vụ cúm gà cúm vịt, rồi mùa màng, Tết nhứt, trăm thứ bề bộn mà cái làm cho tui ngại nhất khi ngồi vào bàn viết thơ cho chú là tâm thần nó ê ẩm quá mạng! Ê ẩm vì tuổi mình tới cái độ gọi là già nua rồi mà nhớ đến chú nay cũng không còn trẻ trung gì nữa! Anh em mình dù bà con cô cậu mấy đời nhưng nhớ đến năm lần chú để bác sĩ cả Mỹ lẫn Việt Nam mổ banh cái bao tử vọc chơi khơi khơi, tui thấy thương cho cái bao tử của chú quá chừng!

Cái mà chú hơn tui là chú có thừa bản lĩnh, một mình, để vượt qua những cơn đau thập tử nhứt sinh không thua gì các bà mẹ hồi sinh nở đã tâm sự “người ta đi biển có đôi, đàn bà đi biển mồ côi một mình”; còn tui thì, ôi thôi, cái gì cũng bà nó ơi, má con Thảo ơi, tui sao nay rề rề chỗ này, nhức mỏi chỗ kia, sổ mũi, cảm ho, bá bịnh, nếu không có chị hai của chú lo miếng cháo miếng cơm là tui xí lắt léo liền hà!

Ở đời hơn nhau là ở chỗ đó nghe chú Tám! Người ta thường ví một đời người không ai qua khỏi bốn thời kỳ “sanh, lão, bịnh, tử” trong thế gian này; nhưng tui lại thấy duy chỉ có chú là người chưa bao giờ biết than mình già; lúc nào chú cũng yêu đời, vui với anh em, chia ngọt xẻ bùi với vợ con gia đình và say mê văn nghệ văn gừng, đặc biệt là cái thú sách vở chữ nghĩa làm chú quên cái bao tử năm lần đau mà mê man theo dõi mọi diễn đàn. Người ta sống lâu là nhờ không biết sợ già chú Tám à. Giống như hồi thời tui còn đi học trường tỉnh, có nhiều đứa học nhảy lớp, như học đệ ngũ mà thi bằng Trung Học Đệ Nhất Cấp, học đệ Tam mà thi bằng Tú Tài 1, mà đậu ngon ơ, thế mới lạ chớ. Có cái kết quả đó là nhờ người ta không sợ rớt; trong khi mình thức suốt đêm lo gạo bài gần nám phổi mà tới kỳ thi, năm nào cũng xách cần xé hái ớt dìa muối làm tương ớt cả khạp. Kể ra, hồi đó học tài thi phận là vậy chú Tám à!

Xem thêm:   Những đoạn ghi

Thành ra, tui thấy cái phận nó lấn cái tài và nó cầm tinh cái vận mạng của mình. Bởi vậy mà hồi đời xưa trong Kiều, cụ Tiên Điền, có nghiệm về “tài mệnh tương đố” đó chú Tám… cũng chỉ để an ủi thôi, an ủi những kẻ vô phần, xấu phận vậy mà!

Chú Tám sắp nhỏ,

Nhân nhắc đến Kiều, chú có để ý Nguyễn Du dùng bao nhiêu chữ “cũng” hông chú? Cả thảy 128 lần khác nhau. Còn tui tò mò đi tìm xem trong Lục Vân Tiên, Nguyễn Đình Chiểu có dùng chữ “cũng” nhiều như vậy hông. Ở đây, so với Kiều, Lục Vân Tiên chỉ có 37 lần trong số 2076 câu thơ quen biết này. Thành ra, đâu phải bây giờ mình mới nghe chữ “cũng” phải hông chú Tám? Chỉ có điều khác là cũng chữ “cũng” đó, nhưng người này dùng có ý khen gượng gạo gần như để chê nhè nhẹ; người khác dùng có ý khiêm cung, nhún nhường; người khác dùng có ý lượng giá và so sánh thiệt tình chứ không có ý mỉa mai khen chê gì trong bụng mình như nhiều người có tịt thường hay rụt rịt…vậy mà!

Tui viết cho chú mới có mấy hàng mà tui lập đi lập lại bốn năm lần chữ “cũng”, kể ra “cũng” quá rườm rà, lượm thượm phải hông chú Tám? Thôi thì, lâu ngày không cầm tới cây viết, rồi mắt lại làn, nên ba trật ba vuột viết đi viết lại hoài chữ “cũng”, cũng là phải thôi.

Vì phàm ở đời, khi mình tới cái tuổi ngoài lục thập rồi, là bắt đầu theo mệnh trời; mà hễ theo mệnh trời tức là mình không còn là mình nữa rồi; và chính vì mình không kiểm soát được cái gì mình làm tức là có lẩm cẩm; mà đã lẩm cẩm là bắt đầu lú lẫn như câu tục ngữ ở làng quê tui người ta hay nói “trẻ khôn qua, già lú lẫn”.

À, mà sao ngộ nghe chú Tám, việc gì hễ khi mình không để ý thì thôi, bằng để ý thì cứ lập lại hoài cái thói quen mà mình không biết, giống như “ba đời bảy họ nhà tre, hễ cất lấy gánh nó đè lên vai”. Cho nên, tiện đây, nhớ hôm trước chú có hỏi tui về chữ “cũng”, tui cũng muốn bàn với chú về cái chữ “cũng” ở nơi kinh xáng này hay xài như cơm bữa là cái ý nó có khác trong giới thầy cô chữ nghĩa hay xài chú Tám à. Nó khác một trời một vực chứ không phải là hơi hơi như nhiều người tưởng “xêm xêm” một thứ. Cái lẽ đó nó cũng là cái khác giữa “trí giả” và “dân dã”, giữa “thiệt” và “thật”, giữa “có” và “không”, giữa “đãi bôi” và “chân thành”….

Xem thêm:   Nồi áp suất

Khi  bậc trí giả dùng chữ “cũng” với cái nghĩa như nhau, giống nhau, một thể với nhau trong nhiều trường hợp phải đãi đằng, giao thiệp thì có chút gì hơi gượng gạo, không nói thế lại sợ mích lòng nhau, nên hay dùng chữ “cũng” cho nó qua chuyện, cho nó êm ái tình bằng hữu, cho nó suôn sẻ mối giao tình như “cũng hay, cũng được, cũng tốt, cũng phải, cũng xong, cũng đẹp, cũng đoan trang, cũng thùy mị, cũng mặn mà….”.

Còn trong dân dã, thôn quê, khi  người làm ruộng dùng chữ “cũng” là tỏ ra lời khiêm cung rất mực, tự ép mình xuống để cho người khác hơn mình, không dám qua mặt chòm xóm, láng giềng, không dám se sua của ghe của bồ mà lên chưn lên mặt, như khi dân ruộng nói “lúa mùa này cũng đỡ” tức là lúa cuả họ trúng lắm; hoặc “đậu xanh mùa này cũng khá” tức là đậu trúng mùa, chứ không phải khá một cách gượng gạo; hoặc giả nói “con nhỏ này coi mòi đức hạnh cũng khá”, tức là đức hạnh không thua ai trong làng xóm này, chứ không phải khen gượng gạo như dân sách vở hay khen nhau mà thật sự khen gượng cho vui thôi!

Thành ra, bàn với chú về chữ “cũng” ở nhà quê khác với ở chợ là bàn về “cái thiệt và cái thật”. Cái thiệt là cái có thiệt, khen thiệt, chứ không phải khen gượng. Cái thật là cái có trong sách vở và cái khen ở trong sách vở là cái khen “thật” nhưng chưa được “thiệt” cho lắm.

Ngoài ra, chữ “cũng” này đâu chỉ có ngoài đời mình ưa dùng, mà ngay trong các chùa chiền từ đời xưa bên Tàu tới hằng mấy ngàn năm, các bậc cao tăng đã lấy chữ “cũng” mà kiến giải cái tu cái học rồi. Chú còn nhớ mẩu chuyện giữa Thiền sư Thần Hội và Lục Tổ Huệ Năng hông? Hồi nhỏ tui theo tía tui ra chùa Tân Phước ngay tại vàm Rạch Dược vào các ngày rằm lớn cúng Phật, lần nào tui cũng nghe ông Yết Ma trụ trì chùa, hồi đó ổng già lắm rồi, mà lần nào cũng như lần nào, ông hay nhắc lại đoạn đối đáp giữa ngài Thần Hội lúc 14 tuổi với ngài Lục Tổ Huệ Năng cho tía tui và bà con đến cúng chùa ngồi nghe. Sau này ông Yết Ma tịch rồi, pháp thể của ngài được chôn trong bảo tháp hình lục giác cao gần bảy thước cạnh chùa, mà câu chuyện kể về ngài Thần Hội tui còn nghe tía tui nhắc lại hoài. Thế mới biết, cái việc học đạo không phải học một ngày một bữa mà phải tụng niệm hoài mới thấm chú Tám à.

Thôi, nói lòng vòng hoài, sợ chú nóng ruột, để tui lược lại câu chuyện xưa mà ông Yết Ma hay kể lại để chú tường:

“Năm 14 tuổi, Thần Hội là sa-di ở chùa Ngọc Tuyền, Sư tìm đến yết kiến Lục Tổ Huệ Năng. Tổ hỏi:

– Tri thức từ phương xa nhọc nhằn tìm đến có đem được gốc theo chăng? Nếu có gốc phải biết chủ, thử nói xem?

Sư thưa:

– Lấy không trụ làm gốc, thấy tức là chủ.

Tổ bảo:

– Sa-di! Ông đâu nên dùng lời đó!

Sư thưa:

– Hoà-thượng ngồi thiền là thấy hay chẳng thấy?

Tổ cầm gậy đánh Sư ba gậy, hỏi:

– Ta đánh ngươi đau hay chẳng đau?

Ngài nói:

– Con “cũng” đau, “cũng” chẳng đau.

Lục Tổ bảo:

– Ta “cũng” thấy, “cũng” chẳng thấy.

(còn tiếp)