Có người thợ gốm già nổi tiếng làm ra những chiếc tách đẹp gần như hoàn hảo. Đất qua tay ông luôn trở thành tuyệt tác. Muốn làm học trò của ông cũng là một chuyện khó khăn, và môn sinh của ông cũng toàn là nghệ nhân tài danh nổi tiếng.

Tứ là học trò nhỏ nhất ông thu nhận. Cậu chăm chỉ, chịu khó, nhưng có một chút háo thắng của tuổi trẻ. Cậu luôn muốn làm được những chiếc tách không một vết sạn, không một đường méo, không một chỗ nứt. Nhưng càng cố, cậu càng khổ sở, lần nào trong mẻ gốm cũng có một, hai chiếc tách bị nứt nhẹ hoặc biến dạng.

Chiều hôm ấy, cậu lại cầm chiếc tách nứt hầm hầm chạy ra sau núi vứt bỏ. Người thầy già nhìn thấy, đưa tay ngăn lại.

Ông lấy chiếc tách ấy, rót trà nóng vào rồi chậm rãi ngồi uống. Hơi trà bay lên mỏng như sương. Cậu học trò nhìn thầy, không giấu được ngạc nhiên: “Thưa thầy, sao thầy lại dùng chiếc tách này?”

Người thầy mỉm cười, nói: “Nước trà trong tách lành hay tách nứt cũng đồng một vị. Lại đây, ta cho con coi…”

Cậu học trò rụt rè bước tới, người thầy đứng dậy, dẫn Tứ ra một căn phòng khóa cửa, bên trong là những cái rương gỗ cũ, phủ bụi tro. Ông mở nắp một cái rương, hàng chục chiếc tách, chén nứt, méo, cái cong miệng, cái cháy men, có cái bể một góc… mỗi cái đều có ghi tên một người, có những cái tên quen thuộc.

Xem thêm:   Lá Thư Từ Kinh Xáng 1 (kỳ 39)

Ông nói: “Đây là kho báu của ta. Tách mẻ, chén nứt này là vết tích của cả người thành danh lẫn kẻ bỏ cuộc ra đi từ cái lò nung cũ kỹ này. Những tỳ vết vốn sinh ra từ lửa đỏ, nhìn vô mặt gốm đâu ai hay được ngày sau người nắn ra nó sẽ thành rồng hay thành rắn. Kẻ ngó vết nứt mà ngộ ra đạo lý thì ngày sau thành nghệ nhân tuyệt đỉnh. Còn kẻ cứ để ngọn lửa sân si thiêu rụi từng ngày, rốt cuộc sẽ trở thành phế nhân, không tài nào làm nên tuyệt tác.”

Bảo Huân