Hà Thúc Sinh tên thật Phạm Vĩnh Xuân. Sinh năm 1943 tại Thanh Hóa. Di cư vào Nam năm 1954. Sĩ quan QLVNCH, sau 1975 đi tù Cộng Sản hơn 5 năm, vượt biển 1980. Định cư tại Hoa Kỳ 1981. Ông bắt đầu viết văn năm 1964 trên các tạp chí văn học ở Sài Gòn, có thời chủ trương tạp chí văn học Tân Văn.

Hà Thúc Sinh được xem là Thi Sĩ nổi bật của một thời. Ngàn Lời Thơ của ông là một minh chứng. Nguyễn Mạnh Trinh nhận định khi đọc thơ ông: “Không hiểu sao, thơ Hà Thúc Sinh đối với riêng tôi có sự cộng hưởng kỳ lạ. Khi đọc những bài thơ của ông, tôi thấy hình như có điều gì giông giống với suy tư của mình và gợi cho tôi những cảm giác của giây phút sống thực song song với những thi ảnh và thi tứ của một người coi thi ca như một lẽ sống trên đời. Đọc Ngàn Lời Thơ, tôi thấy được những dặm trường hành của thơ ông, từ những tập thơ viết thời gian gần đây đến những bài thơ viết thuở xa xưa, là phản ảnh lại một cuộc sống mà những thăng trầm đã còn hằn dấu vết. Thơ hào sảng khi tuổi trẻ chiến tranh, bây giờ ở xứ người “cay chua” với thời thế và “mặn ngọt” với kỷ niệm…”

Gần đây Hà Thúc Sinh lâm vào tình trạng suy yếu nhãn lực, mắt không còn nhìn thấy rõ. Để gợi lại hình bóng bạn xưa, mời các bạn cùng đọc lại một vài bài tiêu biểu của thơ Hà Thúc Sinh. SAO KHUÊ

Xem thêm:   Chiêu Anh Nguyễn

Buổi chiều ở nhà. mời bạn đánh chén,

nửa chừng hết rượu

 

Giằn ly xuống chiếu cười gượng cười

Ta biết rằng chưa ấm bụng ngươi

Bực thay bạn đến từ muôn dặm

Mà rượu hề không đủ say chơi

 

Con ta chợt ré lên sau bếp

Buổi chiều đổ lửa xuống nhà tôn

Hà Thúc phu nhân coi buồn lắm

Sữa thiếu làm sao tiếp rượu chồng

 

Bạn ta người của mùa chinh chiến

Đời quen rộng rãi thú tiêu pha

Kéo ta ra quán hề ra quán

Ngó trời ngó đất mà thương ta

 

Trăng kia sao chẳng vào dinh thự

Mà chỉ nằm chơi một ngọn cây

Bạn ta nào hiểu niềm sung sướng

Đời ta hề chưa bẩn đôi tay

 

bài thơ tháng năm

bài thơ đầu viết ở Mỹ,

 

Tháng này trí nhớ là đêm

Gió mùa lên tới ngang anh thì ngừng

Lầu cao lũng thấp xe tuôn

Quanh co đường lạ phân vân ánh đèn

Cây xanh chót vót cây xanh

Vàng mười nắng mỏng đồi nghiêng dán vào

Dang tay rừng hát lao xao

Gió như cởi áo vào sâu lòng người

Tháng này xa xứ lạ nơi

Buồn thâm trầm khẽ phanh phui ra ngoài

1 May 81

 

dự cảm dưới trăng

bài thơ sau cùng viết ở Sài Gòn tự do

 

Cúc nở đêm tàn

Ai đuổi theo áng mây hề

Nguyệt cầm ngủ muộn

Với sao khuê

Ta lang thang đêm ngõ trúc hề

Gió gửi theo chi thơm mùi phấn

Ai đó nhớ ai hề

Nghe thèm muốn dưới trăng

Hận bất tương phùng thượng thiếu thời hề

Gió chuyển lời ai hát

Trong xiêm y nàng có gì hề

Mà ta hoài tiếc nuối mông lung

 

Xem thêm:   Tạp chí Ngôn Ngữ số đặc biệt - Tiểu Lục Thần Phong

thủy nguyệt

Bài thơ đầu viết ở Pulau Bidong

 

Đêm yểu điệu trên hàng dương liễu

Lời hẹn hò những lối chưa đi

Sóng bạc đầu mối sầu trăm tuổi

Mây lang thang buồn lạc lối về

 

Em không đến hay em sẽ đến

Nhạc lòng anh sóng cũng tràn trề

Một chén rượu làm nên giấc mộng

Quá đủ rồi biển nói anh nghe

 

Chẳng cùng ai ngồi nơi cuối núi

Quán cà phê có điệu nhạc buồn

Sống những phút cát bồi lặng lẽ

Hạnh phúc nào bằng nỗi cô đơn

 

Sung sướng quá trời ơi nguyệt hiện

Chìm sâu anh một hạt cát vàng

Trăng vướng núi rơi chìm đáy nước

Anh khóc mùi đúng lúc hân hoan

12-80

 

nghinh địch hành

 

Giao thừa đâu mà vội

Hãy khoan đã chú mày

Cứ đóng xa vài dặm

Mà ăn uống cho say

Ta cũng người như chú

Cũng nhỏ bé trong đời

Có núi sông trong bụng

Mà bất lực hôm nay

Chiến chinh trời cũng sợ

Chỉ còn lại hai bên

Vội vàng chi cho cực

Cứ thong thả nghỉ đêm

Vì nói thật cùng chú

Trăm năm có là bao

Binh đao sao biết được

Sinh tử ở nơi nào

Nếu chú có cha mẹ

Ta chẳng những người thân

Còn mang thêm lắm nợ

Với rượu và gió trăng

Chú cứ ăn cho đủ

Mai chết sẽ chết no

Ta cũng cần đêm cuối

Từ giã gió trăng xưa

 

Xem thêm:   Phan Như

tới bến phà

vàm cống buổi chiều

 

Chống gậy ra bờ sông đứng

Mà nghe cát đổ trong lòng

Hồn ta một trời tinh tú

Chiều nay u ám bên sông

Vốc nước lên mà rửa mặt

Đói mồi cá lượn nơi nao

Thiếu thóc chim về đất lạ

Lòng ta sao khỏi nôn nao

Nơi đây cận giang cận thị

Trẻ em sao phải ăn mày

Tuổi già lao đao gánh nặng

Mộng người quanh quẩn cối xay

Bình sinh ngũ thiên quyển

Nhất tự bất cứu cơ *

Ngửa mặt cười rơi lệ

Mà nhớ họ Tô xưa

*Thơ Tô Đông Pha