Tại sao nhân loại cứ mải miết ca tụng “Giấc mơ Mỹ”, trong khi ít ai nhắc đến “Giấc mơ Trung Hoa”, “Giấc mơ Nga” hay “Giấc mơ Ấn Độ”?

- Những giấc mơ“
Giấc mơ Mỹ” không phải là khái niệm do nhà nước Hoa Kỳ đặt ra, mà do James Truslow Adams định danh vào năm 1931 trong cuốn The Epic of America. Khái niệm này vẽ nên một bến bờ của cơ hội: bất luận anh sinh ra ở thân phận nào, dẫu bần hàn hay thấp kém, hễ đặt chân đến đây, phải (bắt buộc) cần mẫn làm lụng, anh có thể có nhà, có chiếc xe hơi, và một cuộc sống sung túc. Sức mạnh thật sự của Giấc mơ Mỹ nằm ở việc nó lấy cá nhân làm trung tâm. Anh là ai, anh là người từng trong hành trình di cư vĩ đại tới nước Mỹ, từ Âu châu, từ Á châu, từ Mỹ Latinh… đổ về để xây dựng cuộc đời mới ở “Miền Đất Hứa” này. Theo năm tháng, từng thân phận vụt sáng, cộng hưởng với cỗ máy truyền thông khổng lồ của Hollywood, đã biến “Giấc mơ Mỹ” thành những thước phim rực rỡ, khiến cả thế giới “sáng mắt sáng lòng” ôm khát vọng một lần được làm nhân vật chính. Và trong “giấc mơ” đó, ngày càng có nhiều người giàu, người thành công, người mang cuộc đời đáng ngưỡng vọng… không chỉ là những người thiếu thốn tìm tới.
Ngược lại, hãy nhìn sang những “giấc mơ” khác.

Trăn trở thiệt chớ… – Nguồn: phunuonline.com.vn
Có một “Giấc mộng Trung Hoa” (Zhongguo Meng) được ông Tập Cận Bình xướng lên từ cuối năm 2012, nhấn mạnh vào “sự phục hưng vĩ đại của dân tộc”. Giấc mộng ấy mang nặng tính tập thể, đề cao sự thống nhất ý chí và vai trò tuyệt đối của hệ thống. Ở lăng kính đó, cá nhân phải thu mình lại, hóa thành một chiếc bánh răng cống hiến cho đại cục hùng cường, rồi mới mong được hưởng sái chút vinh quang chung. Một khát vọng đòi hỏi sự hy sinh cá nhân nhường ấy, thiết tưởng, rất khó để tạo ra sự đồng cảm cho những tâm hồn tự do ngoại quốc.
Nước Nga cũng thế. Lịch sử của họ dẫu trải qua bao thăng trầm từ thời Đế quốc Nga đến Liên Xô, người Nga thích nói về “ý tưởng Nga”, sức mạnh dân tộc, đế chế được thế giới nể trọng, hoặc đơn giản là cuộc sống ổn định hơn là “Giấc mơ Nga”. Ngoài cảnh chiến tranh bá quyền, thì hình ảnh đời thường Nga truyền thông trên mạng quen thuộc với rượu vodka (biểu tượng văn hóa của Nga) và gấu nâu (động vật hoang dã bản địa) – không liên quan hình ảnh một “miền đất hứa” cho di cư, hay thành công cá nhân (trừ “cá nhân” Putin).
Về phần xứ sở tỷ dân ven sông Hằng, “Giấc mơ Ấn Độ” suốt hàng ngàn năm bị bức tường giai cấp chắn ngang, mọi nỗ lực vươn lên của cá nhân bị đè như Tôn Ngộ Không bị núi đá đè suốt hàng ngàn năm. Ngoài ra, giấc mộng đầu tiên của họ là sự giải thoát tâm linh (Moksha) chứ không phải việc tích lũy của cải vật chất, nhưng rồi thời thế khác biệt, họ vùng dậy, chạy trốn khỏi giấc mơ đó. Những thập niên gần đây, Ấn Độ nhào nặn rõ nét một nếp sống mới qua con đường trí thức: trở thành kỹ sư, tổng giám đốc điều hành các công ty kỹ thuật, thu hút các tập đoàn chế tạo lớn với lượng nhân sự khổng lồ… những con người ở các tầng lớp thấp đều cố vươn lên, thoát khỏi chế độ nô lệ phong kiến. Tuy nhiên, họ vẫn chưa có một thương hiệu hay một giấc mơ rõ rệt.

Một người hỏi: Câu hỏi mình đặt ra cho Bộ Giáo Dục đây là Steven Jobs đã chết cách đây 16 năm khi các cháu đang thi bây giờ mới có 3 tuổi thì liệu mấy cháu biết được ông đó là ai không? – Nguồn: Anton Dat
- “Nhãn” của các giấc mơ
Mỹ khác biệt rõ ràng, và ai cũng thấy nguyên nhân nằm ở cách Mỹ dán nhãn “Giấc mơ Mỹ”, đó là một giấc mơ cá nhân, không phải giấc mơ dân tộc, giấc mơ của chính phủ. Giấc mơ cá nhân có sức mạnh đặc biệt vì nó khiến từng con người tin: “Tôi có thể đổi đời”. Câu nói ấy đơn giản nhưng đủ sức kéo người nghèo, người nhập cư, người bị coi thường thử cà nhắc cà thọt đứng dậy, lò cò lên một bước. Cho người đủ đầy dám vứt bỏ tất cả, thử lại từ đầu với câu chuyện khác. Một quốc gia thực sự vững mạnh không phải là nơi treo đầy khẩu hiệu vĩ đại, mà là nơi hàng triệu cá nhân được học hành, làm ăn, sáng tạo, thất bại rồi đứng dậy, được bảo vệ tài sản và ý kiến. Khi hàng triệu cá nhân rủng rỉnh bạc tiền và tự do, xã hội tự nhiên đan kết thành một bức lưới kiên cố. Chẳng cần ngày nào cũng treo khẩu hiệu “vĩ đại” lên trán như đóng dấu mộc xanh lên da heo. Phú quý ắt sanh lễ nghĩa. Một người giàu, cả làng giàu, cả xóm giàu, cả khu thành phố thì quốc gia tự khắc hưng thịnh. Tiền tài trù phú trong tay dân chính là nền móng vững chãi nhất cho cả dân tộc. Ngược lại, lỡ cá nhân này sụm nụ, có cá nhân khác nâng đỡ, lỡ nhà nước sụm nụ, dân vẫn phải làm vẫn phải ăn, chứ không ngồi sợ hãi, lo lắng…
Cái nguy của “giấc mơ dân tộc” là nó rất dễ trượt từ mục tiêu chung sang cái cớ để chèn ép cá nhân. Ban đầu nghe thật mỹ miều: phục hưng, hùng cường, thống nhất ý chí. Nhưng nếu thiếu đi giới hạn của quyền lực, guồng máy ấy sẽ lạnh lùng gõ cửa hỏi từng người: “Anh/chị đã hy sinh đủ chưa?”. Cá nhân bị thu nhỏ thành bánh răng, khác biệt bị coi là lệch lạc, phản biện bị xem là phá hoại. Lúc ấy, nhà nước không còn là chỗ dựa mà trở thành cỗ máy nghiền nát ước mơ riêng.

Thiên tài ở VN vẫn còn nhiều – Nguồn: Facebook
- Vậy còn “Giấc mơ Việt Nam” thì sao?
Năm 2017, cụm từ “Vietnamese Dream” từng được giới lãnh đạo xướng lên, trăn trở vì sao truyền thông chỉ nhắc đến giấc mơ của các nước lớn? Khi nào Sài Gòn được như Tân Gia Ba? Khi nào Hà Nội được như Paris hoa lệ?
Nếu nói “như” thì chắc chỉ được “như” một nước nào đó, sao mà đặng toàn cái tốt của thiên hạ được? Và phải nhìn nhận rằng, chúng ta đang sống theo lối bầy đàn, nhưng một bầy đàn rời rạc không đoàn kết – Dầu cá nhân thường xuyên bị buộc phải hòa tan vào tập thể. Hễ kẻ vươn lên quá rực rỡ, phô bày dị biệt thường nhận về những ánh nhìn dè chừng, đố kỵ hơn là tràng pháo tay tán thưởng. Thay vì xây dựng nền tảng cho từng cá nhân, đa số vẫn thích khoác lên mình những mỹ từ vĩ đại, tự hào… mượn hào quang bên ngoài để lòe nhau, thay vì chắt chiu từng viên gạch cho gia đình và bản thân. Thay vì cặm cụi gầy dựng nền tảng vững chắc cho cá nhân mình, đa số lại khoái mặc chiếc áo quá khổ của người khổng lồ. “Ta” mơ được giàu nhất như Mỹ, hạ tầng khổng lồ và dân phải ngoan như Tàu, và có vị thế ngạo nghễ như (Tổng thống) Nga.
“Giấc mơ Việt Nam” nên giản dị và cụ thể hơn, về nhân lực thì phải nói người Việt rất thông minh, rất giỏi, rất khéo…. Việt Nam chỉ cần trở thành nơi người trẻ làm ăn không bị bóp nghẹt bởi giấy tờ, tiền tệ và “quan hệ”. Người có thực tài chẳng cần phải tha hương mới có đất dụng võ. Người buôn bán nhỏ mà cố gắng vẫn đủ ăn hoặc có cơ may giàu lên, đám đông bình dân không cần nghĩ “chỉ có đi ăn cướp hoặc ăn lừa ăn lận mới giàu”. Người sáng tạo được bảo vệ chất xám. Dân đen có tài sản được pháp luật chở che. Kẻ thất bại được làm lại cuộc đời, và những con người bình dị nhất vẫn có cơ hội mua nhà, chữa bệnh, nghỉ ngơi và tích lũy gia tài. Không cần mơ thành một nước Mỹ hay nước Tàu thứ hai, chúng ta chỉ cần mơ sao cho từng người Việt được đứng thẳng trên quê hương mình…

- Steve Jobs xứ Giao Chỉ
“Giấc mơ Việt Nam” quá giản dị và dễ để mơ, nhưng chắc có ít người dám mơ. Vì chờ lâu quá… Bởi vậy, đa số nhân loài ở Việt Nam, dầu là người nghèo, người giàu, người yêu nước, người yêu Đảng… nếu được hỏi, chọn một giấc mơ, chắc đa số sẽ chọn mơ một “Giấc mơ Mỹ”. Vừa rồi có câu hỏi trong đề thi tốt nghiệp môn Ngữ Văn tốt nghiệp trung học phổ thông 2026 gây cãi lộn ì xèo trên mạng: “Nước Mĩ có Steve Jobs, Mark Zuckerberg, Elon Musk… với những phát minh công nghệ góp phần làm thay đổi thế giới. Từ gợi dẫn trên, với tư cách người trẻ, anh/chị hãy viết đoạn văn nghị luận (khoảng 200 chữ) trả lời câu hỏi: Làm thế nào để có những ‘Steve Jobs Việt Nam’?”
Ở cái xứ mà giấc mơ cá nhân cao hơn dân tộc đó, có rất nhiều người Việt thành công và rất thành công, đa số người Việt thành công trên đất Mỹ đó không có một bệ phóng đẹp đẽ và êm ái. Có những người qua tới Mỹ không có bộ đồ lành để mặc. Ngay cả những đứa trẻ mang thân phận thuyền nhân nghèo khó như Hùng Cao, vẫn được khoác lên vai sứ mệnh Quyền Bộ trưởng Hải quân Hoa Kỳ (Acting United States Secretary of the Navy, hiên ngang bước vào chính trường lớn. Nên người Việt có đủ tư cách nói rằng nước Mỹ có Steve Jobs, Elon Musk, Mark Zuckerberg không phải vì người Mỹ thông minh hơn.
Tính kỹ thì nếu mấy ông đó ở Việt Nam, cũng là “thành phần bất hảo” chứ hông đùa. Hãy nhớ rằng Steve Jobs từng bỏ đại học, từng sa đọa vào ma túy, và bị đuổi khỏi chính Apple do mình sáng lập. Mark Zuckerberg vứt bỏ tấm bằng Harvard. Elon Musk năm lần bảy lượt bị cười nhạo là gã điên viển vông, suýt mất trắng cả Tesla lẫn SpaceX vào năm 2008. Jensen Huang của Nvidia từng nhiều lần suýt phá sản những năm 1990 và luôn tự nhận “luôn ở trạng thái 30 ngày trước phá sản”. Hơn thế nữa, mấy ông tỉ phú Mỹ không phải ai cũng ưa hay nghe lời chính quyền hay đảng phái hiện có ở Mỹ. Như một Steve Jobs góc cạnh từng dám ngồi chỉ trích thẳng mặt Tổng thống Obama năm 2010 về các chính sách kinh tế. Tập đoàn Apple dưới thời Tim Cook từng cứng rắn cự tuyệt mệnh lệnh mở khóa iPhone của Cục Điều tra Liên bang (FBI). Những điều ấy, nếu xảy ra ở nhiều nơi khác, kết cục sẽ rất khác.
Nếu Steve Jobs là “Steve Jobs xứ Giao Chỉ”, ông hẳn đã gặp muôn vàn trắc trở với quá khứ nghiện ngập. Hoặc sẽ được “định hướng” ngay từ trong trứng nước, hoặc sẽ không được làm những điều “không nên”. Bớt hỏi lại, vì như vậy là ngang bướng. Bớt nghĩ khác, vì như vậy là hoang đường. Bớt bỏ học, vì thiếu bằng cấp là vứt đi. Bớt ý kiến ý cò, nếu không muốn thành “phản động”…
Trần trụi nhất có lẽ là lời giải cho đoạn văn nghị luận của độc giả Vũ Tiến Đạt: Với 200 chữ thì bài văn sẽ bắt đầu bằng việc kết hôn, sau đó sinh con rồi đặt tên là Steve Jobs Nguyen.

Steve Jobs từng nghiện ma túy, các báo Việt Nam nói – Nguồn: Google.com
DU

Bà Tám ở Sài Gòn







