Gần đây, trong những ngày tháng Tư 2024 này giữa lúc cuộc xung đột Israel-Palestine diễn ra khốc liệt, lại thấy những cánh diều của trẻ bay trên dải Gaza. Báo chí cho biết: sống trong vùng bom đạn, những đứa trẻ ở Gaza tận dụng mọi vật liệu để làm những con diều, dù rách, để thả lên bầu trời trong vùng chiến sự. Trên những cồn cát ở Rafah, miền Nam dải Gaza, tiếng cười của trẻ em vang lên giữa tiếng máy bay trinh sát không người lái của Israel. Người ta thấy nhiều trẻ em từ các thành phố di cư đến Rafah tụ tập để thả diều. Nhưng hỡi ôi, mới đây Israel đã cho không kích xuống Rafah, gây ra cảnh đổ nát, tang thương. Xin đừng hỏi những trẻ em Rafah về đâu, những cánh diều về đâu.

Vậy chỉ xin nói tới những cánh diều của tuổi thơ trong một thế giới bình yên.

Trước hết phải nhấn mạnh điều này: Ấu thời ở quê nhà ngày xưa cậu con trai nào mà không chơi diều, thả diều. Và có thể nói trong lòng mỗi gã đàn ông trung niên bây giờ đều có kỷ niệm về những con diều giấy. A, những cánh diều bay lượn trên bầu trời là hình ảnh của tuổi thơ bình yên, trong sáng, hạnh phúc. Dù ở đâu cũng vậy, trên bãi biển Galveston, trên những cánh đồng làng Lại Thế của Tim hay dưới bầu trời thành phố Kabul của Afghanistan.

Tim tôi xin bắt đầu với những cánh diều trên bờ biển Galveston, Texas, rồi mới tà tà nói tới những cánh diều ở nhiều nơi khác.

Vâng. Trên bãi biển Galveston một buổi sáng tháng 9 năm 2006, ô ngạc nhiên và hạnh phúc biết bao, Tim Nguyễn được nhìn thấy hai cánh diều sặc sỡ lượn bay dưới sợi dây căng của hai cậu bé. Có hai gia đình Việt Nam với vợ chồng con cái cùng đi tắm biển Galveston sáng hôm ấy. Chắc hẳn hai ông bố hồi nhỏ cũng mê thả diều nên muốn các con mình biết niềm vui trong sáng của ấu thời. Và họ đã làm hai con diều thật đẹp, theo kiểu diều Đông phương, màu cánh sen pha nâu và biếc, như màu của một chiếc chăn thêu. Như vậy là hai ông bố này đã mang theo tuổi nhỏ và quê hương trong hình ảnh con diều giấy. Tìm tới làm quen, thì được anh Hải người Huế cho biết, ngày xưa anh từng thả diều trên cánh đồng làng Lại Thế, Phú Vang, là nơi quê nhà của Tim. Và trước khi sang Mỹ định cư, anh Hải từng có chân trong Câu Lạc Bộ Diều Huế. Đôi lần, anh đoạt giải thưởng thả diều của thành phố. Tới nay, anh vẫn còn tương tư những cánh diều dưới bầu trời quê cũ.

Tim tôi cũng vậy. Trong những kỷ niệm ấu thời, kỷ niệm về những buổi thả diều trên cánh đồng làng vẫn còn in đậm nét. Làm sao quên được, bạn nhỉ. Bầu trời ngày ấy, hình như đẹp hơn bây giờ. Và đình làng Lại Thế với cây bàng cao lá đỏ dường như đã đi vào thời gian của người (nói theo kiểu văn chương hậu hiện đại đấy, xin lỗi các bạn). Tôi thấy lại. Cái ao sen trước đình, nơi người mã phu mê trà bạn của Tim bị Việt Minh gán cho tội Việt gian phản quốc đem ra bắn. Và nơi sân đình kia, dưới mái ngói âm u, là nơi Tim tôi và bạn Tống Viết Mẫn từng ngồi học bài thi. Ở đó, trên cánh đồng mênh mông của làng Lại Thế, những cánh diều trắng tung bay trong chiều lộng gió, đùa giỡn cùng mặt trăng. Cũng vậy, hai con diều giấy trên bãi biển Galveston chỉ lượn chơi, nô đùa với mấy cánh hải âu hiền lành. Bầu trời ở đây cũng như ở quê nhà ngày ấy, thật an lành phước hạnh. Những con diều cứ bay lượn nhởn nhơ không hề lo sợ phải gặp một con yêu tinh mặt đỏ râu xanh nào như trong một ca khúc của Trịnh Công Sơn. Nói tới những cánh diều trên cánh đồng làng Lại Thế không thể nào không nhắc tới cánh diều của Trần Vàng Sao, anh chàng Nguyễn Đính cùng làng cùng quê với Tim này.

The Kite Runner (Kẻ Săn Diều) – nguồn armchairjournal.com 

Với Trần Vàng Sao (ôi Đính nay không còn nữa), cánh diều của tuổi nhỏ dính liền với kỷ niệm một thời nghèo đói phải đi tìm ăn vắt cơm cúng trên ngôi mả mới ở ngoài đồng.

Xem thêm:   Những người bạn một thời

“không có ai đi ngang qua đây để thấy con diều của tôi

buổi trưa đứng bóng trên trời rất nhiều gió

tôi nằm ngửa nhai mấy cọng cỏ gà
nước cỏ non mát trong cổ

tôi đói bụng và muốn nhắm thật lâu hai con mắt lại rồi ngủ quên

tôi đợi lâu cho mọi người đi hết
cho mấy cái khăn vàng khăn đỏ hết ngoái lại nhìn tôi

“tôi ngồi xuống đất

những hột cơm trắng và khô
tôi ăn cả tàn hương phẩm đỏ vào bụng

liệu ai ở nhà tôi chết

có được một vắt cơm to
trắng thế này để trên mả không

tôi phủi hai bàn tay vào nhau
đến chiều gió rất to

hai cái đuôi con diều muốn đứt
nhưng tôi không còn dây nữa”

(Đứa Bé Thả Diều Trên Đồng Và Vắt Cơm Cúng Mả Mới)

Từ những cánh diều trên bãi biển Galveston và những cánh diều trên cánh đồng Lại Thế ngày xưa, Tim liên tưởng đến những cánh diều ở thành phố Kabul vừa xem trong các sequences của cuốn phim The Kite Runner (Kẻ Săn Diều). Những cánh diều ở đây phải nói là hết sức sặc sỡ và hung hăng. Chúng vờn nhau, đâm vào nhau, nhào lộn giữa bầu trời của xứ Hồi Giáo Afghanistan trong tiếng reo hò tở mở của người dân thành phố. Và khuôn mặt của hai cậu bé thả diều thì cực kỳ căng thẳng. Cuốn phim được hãng Paramount dựng theo cuốn tự truyện cùng tên của Khaled Hosseini xuất bản cách đây mươi năm, nổi tiếng và trở thành bestseller trên văn đàn nước Mỹ. Hình ảnh, coi như chủ đề cuốn truyện, là những cánh diều chợt hiện chợt biến trên bầu trời Kabul. Như thể chúng kể với chúng ta về 3 thập niên qua, lấy thời điểm 1975 làm mốc, từ một thành phố Kabul thanh bình với mùi hương của hoa lawla và điệu nhạc rahab vang lên dưới mỗi mái nhà, đến ngày quân Liên Xô tiến vào thành phố và cách mạng Hồi Giáo bùng nổ với sự ngự trị của Taliban gây ra bao thảm cảnh chết chóc, ly tan. A, cách mạng, nhân danh mi người ta đã phạm nhiều tội ác, ở Việt Nam cũng như Afghanistan.

Xem thêm:   Từ em tiếng hát lên trời

Nhưng thôi. Xin trở lại với những con diều trên thành phố Kabul. Tuy nhiên, trước khi nói về diều, hãy nói về hai đứa bé thả diều và tình bạn của chúng qua những đổi dời và cả cái chết ở Afghanistan. Một người tên Amir và người kia là Hassan. Amir là con ông chủ và Hassan là con người quản gia giúp việc. Amir được đi học và Hassan không. Nhưng chúng chơi thân với nhau, như ruột thịt, nhất là Hassan tận tình, tội nghiệp hy sinh cho Amir. Hai đứa cùng nhau bày ra nhiều trò chơi: trèo cây, bắn ná, hái những trái lựu đỏ, thả diều. Nhất là thả diều, đúng ra phải gọi là chọi diều (kite fighting). Trò chơi này ở Afghanistan không giống với trò chơi thả diều ở Việt Nam. Thả diều, chọi diều, thường vào mùa đông, lúc tuyết rơi phủ trắng mái nhà thành phố. Thân diều vẽ màu sặc sỡ, dây được nhúng vào dầu hắc đặc quánh, trộn lẫn với keo và miểng chai treo lên cây phơi khô cho cứng và sắc. Mùa đông năm 1975, Amir và Hassan cùng tham dự cuộc thi (tournament) chọi diều ở Kabul. Có tới mấy chục con diều bay lượn trên bầu trời và cả thành phố kéo nhau ra xem, reo hò dậy đất. Đám trẻ cho diều bay tung tăng trên trời, cố điều khiển con diều sao cho sợi dây cắt đứt dây diều của đối thủ. Hai bàn tay của Amir và Hassan chảy máu ròng ròng. Lần lượt các con diều bị chém rụng chỉ còn diều của Amir và một con diều màu xanh đối thủ đuổi vờn nhau. Kết cuộc, diều của Amir thắng, và Hassan chạy đuổi theo để bắt con diều màu xanh kia. Than ôi, chính lúc ấy thảm kịch xảy ra …

Những cánh diều bay trên dải Gaza – nguồn abc news

The Kite Runner đã đưa Tim tôi về lại thời thơ ấu, với những trò chơi giống như đôi bạn nhỏ Amir và Hassan. Trèo cây, bắn ná, hái trái, lội sông, bẻ trộm bắp… Nhớ những trận banh trên thửa ruộng trước trường Thế Dạ tới tối mịt mới về và bị ăn đòn. Nhớ những chiều thả diều trên cánh đồng làng Lại Thế, mơ chiếc diều có đủ dây để có thể bay lên cao đụng tới mặt trăng! Nhớ những cơn mưa đông và nắng hè trên dãy bàng và mái tranh thôn ổ. The Kite Runner cũng nhắc Tim nhớ tới những đứa bạn nhỏ tóc húi cua, bây giờ không biết chúng đi đâu về đâu…

Xem thêm:   Hình bóng Cha trong đời

Đọc The Kite Runner, nhìn những cánh diều bay trên thành phố Kabul, Tim không khỏi nhớ tới Sài Gòn thân yêu. Đã có một thời, đứng ở một góc đường nào đó, ở sân nhà thờ Tân Định hay trên bến Bạch Đằng, hoặc giả ở chỗ vào phi trường Tân Sơn Nhất, ngước mắt lên trời khi gió lên, ta thấy những cánh diều bay lơ lửng. Những cánh diều này không bị ai hạ và cũng không bị ai săn đuổi. Tất nhiên, có sinh thì có diệt, và khi chết xác chúng treo trên những đường dây điện thành phố. Đây, Tim mời các bạn nghe nhà văn Bình Nguyên Lộc tả trong một bài tạp bút về Sài Gòn:

“Những xác ấy bị treo lủng lẳng như vậy, có xác rơi xuống đất sau vài hôm, một tuần, một tháng, mà cũng có xác trơ gan cùng tuế nguyệt cho đến mùa mưa mới chịu để cho phong võ làm rã thịt mục xương.

Diều sống có cá tánh riêng biệt khi bay lượn, mà chết, xác diều cũng có cá tánh nữa. Không phải xác nào cũng giống xác nào về lối chết và lối an nghỉ ngàn thu trên dây điện…

Diều ơi, diều có phải gốc người Tây Tạng hoặc người của vài bộ lạc Châu Phi mà khi chết xác không thổ táng, hỏa táng mà lại không táng?”

Khi bộ đội Cộng Sản tiến vào Sài Gòn coi như cuộc đời mỗi người chúng ta đã hết. Với Taliban, nước Afghanistan thời tuổi trẻ của Amir cũng đã chết. Mọi cái đều đã chết, kể cả sự tử tế của con người. Chết chóc ở mọi nơi. Ôi Kabul, ôi Sài Gòn, và cả thành phố Rafah trên dải Gaza như vừa qua, nỗi sợ hãi có mặt cùng khắp, trên phố xá, ở các quán chợ, dưới từng mái nhà. Đêm đêm, chỉ sợ có tiếng người gõ cửa. Như một nhà báo viết: Nỗi lo sợ trở thành một phần của đời sống. Chết trên rừng trên biển hoặc sống ở những trại tị nạn ở Pakistan (hay ở Malaysia?) -và, vẫn lời nhà báo nọ, đôi khi chết may mắn hơn sống. Người lê lết kiếm ăn khắp cùng đường phố, trong số những người này có kẻ có trình độ đại học, hoặc từng là giáo sư trung học, nhà văn và cả triết gia.

Amir trở về Kabul tìm được cậu bé Sohrab con của Hassan. Nơi đây, trong những ngày bi kịch, đã có lúc Hassan mơ, mơ thấy những đóa hoa lawla sẽ nở lại trên những thảm cỏ thành phố, nhạc rahab trổi lên nhộn nhịp dưới mỗi mái nhà và những cánh diều bay rợp trời Kabul trong khi chờ đợi người bạn thơ ấu trở về -điều không bao giờ Hassan có được. Và dòng đời vẫn trôi . Phước hạnh thay, ở hồi kết cuộc, Amir cùng Sohrab và vợ là Soraya tìm lại được hạnh phúc trong một buổi chiều trên cánh đồng ở Fremont, nước Mỹ. Amir chạy theo con diều, nhưng làm sao trở lại ngày xưa với Hassan…

Vậy, chờ khi gió mùa thổi, những cánh diều lượn bay trên đồng cỏ. Như ở Galveston, như ở làng Lại Thế ngày xưa của Tim này.

TN