Tháng 8 năm 2003, nhân cuốn phim Mê Thảo, Vang Bóng Một Thời hoàn thành, Tim Nguyễn có viết một bài về Chùa Đàn và Mê Thảo. Bài viết một phần dựa vào ký ức và tài liệu trên Internet, chứ Tim tôi chưa được xem phim.

Tim đọc Chùa Đàn của Nguyễn Tuân ở những năm trung học. Đã nửa thế kỷ qua, trí óc chỉ còn lưu giữ được hình ảnh Bá Nhỡ cùng cô Tơ đàn ca trong đêm, dưới bóng ngọn đèn dầu mờ tỏ, trong khi gió -đâu từ cõi âm- không ngớt lùa qua khe liếp. Ngày ấy, Tim cũng cảm nhận được Chùa Đàn hay, ẩn ngữ lung linh, nhưng thiết nghĩ nên bỏ quách cái mưỡu đầu (dựng) và mưỡu hậu đi thì đẹp biết bao. Quả đúng như nhận định của một số nhà văn thời ấy, những năm 54-55: cái ông Nguyễn Tuân này láu cá, thêm hai cái mưỡu thô kệch vào, luận thuyết om sòm, mục đích làm đẹp lòng người Cộng Sản, nhưng đã di hại đến nhân cách ông ta và tư tưởng, nghệ thuật của tác phẩm. Nhà văn Hàn Thủy ở trong nước cũng nhận định tương tự: “… Không biết tại sao Nguyễn Tuân viết thêm phần này, có phải cần thiết vì đưa in sau cách mạng? Điều ấy xin để hỏi các nhà làm lịch sử văn học, nhưng độc giả nào muốn đọc Chùa Đàn, dù đã xem hay chưa xem phim, đều có thể bỏ qua hai cái đoạn thủ vĩ gượng ép ấy, đọc không có ích gì mà còn bực mình thêm.” Đúng, nhưng nói như thế còn nhẹ. Có người cho rằng Nguyễn Tuân đã hạ nhân cách, nịnh bợ Cộng Sản. Của đáng tội, không thêm hai cái mưỡu dị hợm này vào thì tác phẩm sẽ không thấy ánh mặt trời, mà bản thân ông Nguyễn có khi còn bị đọa, vào cái thời điểm u tối và u mê ấy.

Vậy Chùa Đàn (tưc Tâm Sự Nước Độc) kể gì với chúng ta? Đặng Tiến, trong một bài viết đăng trên Hợp Lưu, ghi nhận: “Chuyện xảy ra hồi đầu thế kỷ, tại ấp Mê Thảo, một địa danh tưởng tượng, chuyên nghề nuôi tằm dệt tơ. Chủ ấp, Lãnh Út, yêu một cô gái và chuẩn bị đám cưới thì cô dâu tử nạn vì xe lửa bị lật. Từ nỗi tuyệt vọng vì tình, Lãnh Út đâm ra căm thù văn minh cơ khí, chìm đắm vào men rượu, tách mình ra khỏi thực tại, sống trong kỷ niệm, tuyệt vọng và hoang tưởng. Việc trang trại hoàn toàn giao phó cho quản gia là Bá Nhỡ, nguyên bị án tử hình, dù chỉ tòng phạm trong một án mạng. Bá Nhỡ được chủ ấp bao che, nên tận tụy lo cho ân nhân và công việc trang trại. Là một tay đàn cự phách, Bá Nhỡ đã từng đệm đàn cho Tơ, một đào hát lừng danh, anh muốn mời cô Tơ lên ấp hát, may ra điệu nhạc lời ca giải khuây và đưa Lãnh Út trở về thực tại. Nhưng từ ngày chồng chết, cô Tơ đã giải nghệ, và phát nguyện chỉ hát theo cung bậc của cây đàn người chồng quá cố để lại. Nhưng đây là cây đàn thiêng: ai đụng vào là có nguy cơ mất mạng. Bá Nhỡ chấp nhận cơ nguy, sử dụng cây đàn thiêng vào đêm hát. Rồi Lãnh Út đánh trống, cô Tơ ca, Bá Nhỡ đàn, cho đến khi xuất huyết và chết trên cây đàn oan nghiệt. Lãnh Út cùng đoàn tùy tùng đưa xác Bá Nhỡ về ấp. Rồi đốt cháy hết những vò rượu “vô cố nhân” và xây chùa tưởng niệm bạn xưa, gọi là Chùa Đàn. Cô Tơ xuất gia, giữ phần kinh kệ.”

Poster phim Mê Thảo

Nội dung chính của Chùa Đàn là như thế: nó là thế giới ở giữa cõi âm và cõi dương. Cuốn phim Mê Thảo của nhà biên kịch Phạm Thùy Nhân và đạo diễn Việt Linh được dựng lên từ đó. Cả nhà phê bình Đặng Tiến và Hàn Thủy đều xác nhận là phim giữ được không khí của truyện. Từ hình ảnh những nong tằm chín tới, âm thanh của tiếng đàn ấm ức và giọng ca trù vời vợi, ánh lửa đốt tửu phần… đều gợi dậy thế giới Chùa Đàn. Hơn thế nữa, nhà biên kịch và đạo diễn Việt Linh còn sáng tạo thêm người và cảnh để nới rộng không gian u hoặc của Chùa Đàn cũng như khoét sâu thêm vết thương Mê Thảo: nhân vật Cô Cam, có thể xem như người dẫn truyện, lại là một người con gái câm, chỉ xuất hiện ở những chỗ ngoặt của câu chuyện. Cô yêu Nguyễn (tức Lãnh Út) -một tình yêu tuyệt vọng và hoàn toàn dâng hiến. Như Đoàn Dự yêu Vương Ngọc Yến. Như Du Thản Chi yêu A Tử. Một sáng tạo khác, đó là hình tượng cô Út, người yêu trong mộng của Nguyễn, được thể hiện khi thì trong hình nộm bằng rơm, lúc là pho tượng gỗ. Có những cảnh ghê rợn: Nguyễn sống trong nỗi nhớ thương u uất, trở thành điên loạn, qua con mắt của Cam chiếu dọi, làm tình với pho tượng gỗ. Một sáng tạo cực kỳ độc đáo mà Nguyễn Tuân sẽ không dám nghĩ tới, và cũng rất hiện thực, dẫu trong chiều sâu ma quái. Cảnh cô Cam ghen vì yêu Nguyễn đem pho tượng gỗ ném xuống hồ rồi sau đó cô bị cho vào rọ ném xuống theo. Cảnh những bè gỗ trên sông, những chiếc lồng đèn bay lên trời, ngọn lửa tửu phần đốt hồng trời Mê Thảo. Như vậy, theo nhận định của các nhà điểm phim, từ Chùa Đàn đến Mê Thảo, con dường phát triển gập ghềnh, và mỗi lúc một lên cao.

Xem thêm:   Cảm xúc từ New Orleans, một buổi chiều...

Riêng người viết những dòng này tự hỏi: Bao giờ mới được xem Mê Thảo?

Tháng 8. 2003

Nhờ một cơ duyên đẹp đẽ, Nguyễn tôi chẳng những đã được xem Mê Thảo mà còn được đọc lại Chùa Đàn. Cả một thế giới nơi âm dương chập choạng hiện lên trước mắt: ánh lửa mê hoang và tiếng đàn u uất cùng hòa quyện, bi kịch của con người (Lãnh Út) trong tiếng mưa đêm… đem đến cho người đọc và người xem nhiều cảm xúc.

Cảnh trong phim Mê Thảo, Thời Vang Bóng. Photo via Phố Văn Blog.

Đọc Chùa Đàn cũng như xem phim Mê Thảo, trước tiên ta bị lôi cuốn ngay vào cảnh đốn cây hoa gạo. A, đây rồi cây hoa gạo mà Nguyễn thường hình dung trong trí tưởng qua những hồi ức thơ. Chợt nhớ lại những câu thơ Xuân Diệu ngày nào: Tháng hai hoa gạo nở / Mở cánh ngập đồi xa / Máu đào tung tóe vỡ / Chân mây thở sáng lòa Và nhớ Quách Thoại, ôi Quách Thoại: Mặt trời mọc, mặt trời mọc / Rưng rưng mùa hoa gạo / Lỡ một mai tôi chết trần truồng không cơm áo…/ Còn sáng tạo, ta vẫn còn sáng tạo… Riêng Nguyễn tôi, trong một truyện thật ngắn, tựa đề Bến Lú, đã viết mở đầu: Trời sẫm tối. Gió từ mặt sông thổi lạnh buốt. Cây hoa gạo trên đầu dốc, cạnh cái điếm canh xiêu, phát ra những tiếng thầm

Cây gạo là như thế: thân nó đen điu, nhánh cành cong queo, hoa màu đỏ. Hãy nghe dân ấp Mê Thảo nhận xét: “Cây gạo thì quý gì. Gỗ nó chỉ dùng làm áo quan cho bọn nghèo. Hoa thì chỉ quyến rũ được sáo đá và quạ thôi.” Đó là chưa kể người ta đồn nó có ma. Nó thường đứng trơ vơ trên đầu quán dốc. Cô đơn dưới nắng mưa. Ở Mỹ, ta chưa thấy một cây nào như thế. Nhưng nó là hình ảnh quen thuộc của vùng quê đất Bắc. Nó có một vẻ đẹp riêng nên các nhà thơ thỉnh thoảng mới nhắc đến, như trên ta đã thấy. Và bởi vì nó có vẻ đẹp nào đó nên Nguyễn Tuân mới mở đầu chính truyện “Chùa Đàn” bằng cảnh đốn cây gạo về trồng trong sân nhà Lãnh Út nhân kỳ hết giỗ Mợ Lãnh. Ta hãy đọc lại ở đây:

Xem thêm:   Trở về lại với ‘Kim cương và rỉ sét

“Mặt giời lệch bóng, ba chục dân ấp Thảo lực lưỡng bắt đầu thắt cổ cây gạo sừng sững trên dòng suối Vầu. Nhiều múi thòng lọng dây thừng thít mãi vào những cành to giang ra như cánh tay đầu hàng. Những cật người uốn cong gò bấy nhiêu đầu thừng về một phía. Cây gạo xiêu dần rồi vật mạnh xuống như một kẻ chiến tranh bị trúng độc kế ở mặt trận, làm tung bắn lên những thân hình người đang oằn oại trên những đoạn luồng già dùng làm bẫy cắm chèn vào kẽ gốc. Suối Vầu tung nước. Rừng Vầu vang bật lên một tiếng quật gốc già. Đầu rễ cái gốc gạo nhựa rỉ tuôn tợ máu phun. Bọn người đánh cổ thụ ấp Tháo dúi ngang vào dưới thân cây gạo rồi đẩy dần cây to xuống dốc. Đến những chỗ không thả đà được thì họ lại lồng đầu thừng vào cánh nách mà kéo, vừa kéo vừa hò dô ta. Thân họ vẹo về một chiều trước, như xống ngọn cỏ bị gió lùa mau.”

Nguyễn tôi cũng đặc biệt thích đoạn phim mở đầu chính truyện trong Mê Thảo khi đàn ông trai tráng của ấp, mình trần nhễ nhại mồ hôi, quấn dây thừng, ra sức kéo ngã cây hoa gạo đưa xuống bè chở về. Đây quả là một cảnh đặc sắc trong phim của đạo diễn Việt Linh. Đẹp, hùng tráng và gây ấn tượng.

Cảnh mưa trên mái ngói âm dương, với Nguyễn, cũng là những hình ảnh đẹp của cuốn phim. Như mưa ngày nào ở Vương Phủ. Mưa rào qua những ngôi nhà. Những sợi mưa loang loáng ánh đèn. Mưa vỡ trên sân gạch hồng. Và những bước chân trần chạy trong mưa. Bỗng nhiên mưa rộ cười rực rỡ. Hay mưa trong Rashomon, trong Địa Ngục Môn…  Và rồi hình ảnh cô Cam -cô gái câm- hiện ra từng lúc trong từng đoạn phim. Nguyễn tôi yêu nhân vật cô Cam này.  Như đã nói trong bài trên, đây là một sáng tạo độc đáo của đạo diễn Việt Linh (hay của nhà biên kịch Phạm Thùy Nhân?). Bên cạnh cô Cam, còn có hình tượng cô Út, người yêu trong mộng của Lãnh Út, được thể hiện khi thì trong hình nộm bằng rơm, lúc là pho tượng gỗ. Có thể nói, cô Cam là vai diễn linh động nhất, thật và sống nhất trong toàn bộ cuốn phim. Cô vừa là nạn nhân, vừa là chứng nhân của thiên bi kịch ở ấp Mê Thảo. Hình ảnh cô Cam nổi bật qua từng cảnh phim: cô Cam đẫm đam mê trong đêm mưa gió tìm đến phòng Lãnh Út, núp bên ngoài cánh cửa, chứng kiến cảnh hoang loạn của Lãnh Út và pho tượng… Cô Cam nổi cơn ghen khuân pho tượng gỗ xô xuống hồ và rồi sau đó cô bị Lãnh Út trừng phạt, cho vào rọ đầy xuống nước chìm theo pho tượng. Những hình ảnh này đã hấp dẫn người xem không ít.

Xem thêm:   Mùa xuân & những biểu tượng của tình yêu

Ở đây, Nguyễn tôi muốn nhấn mạnh thêm về sáng tạo của nhà biên kịch Phạm Thùy Nhân và đạo diễn Việt Linh: Có thêm nhân vật cô Cam và những hình nhân thì thiên bi kịch ở ấp Mê Thảo có nhiều tầng lớp hơn và phim tăng thêm độ đậm và chiều sâu, nỗi tuyệt vọng và sự điên loạn của Lãnh Út từ đó bộc phát mạnh mẽ, lôi cuốn người đọc. Mối tình thuở ban đầu của Bá Nhỡ và cô Tơ cũng giúp thêm vào biến chuyển tự nhiên của câu chuyện.

Cảnh trong phim Mê Thảo, Thời Vang Bóng. nguồn facebook

Hồi kết cuộc, của truyện cũng như phim là cảnh cô Tơ hát, Bá Nhỡ đánh đàn. Đây là đoạn tả xuất sắc trong Chùa Đàn, văn Nguyễn Tuân ở đây như một bức phù điêu được khắc với nét sâu và mạnh, làm nổi bật tính chất nghệ thuật của Chùa Đàn:

“Chưa bao giờ Cô Tơ thấy rõ cái đau khổ ngậm ngùi của tiếng đàn đáy buổi này. Tiếng đàn hậm hực, chừng như không thoát hết được vào không gian. Nó nghẹn ngào, liễm kết cái u uất vào tận bên trong lòng người thẩm âm. Nó là một cái tâm sự không tiết được ra. Nó là một nỗi ủ kín bực dọc bưng bít. Nó giống như cái trạng huống than thở của một cảnh ngộ vô tri âm. Nó là cái tấm tức sinh lý của một sự giao hoan lưng chừng. Nó là niềm vang dội quằn quại của những tiếng chung tình. Nó là cái dư ba của bể chiều đứt chân sóng. Nó là cơn gió chẳng lọt kẽ mành thưa. Nó là sự tái phát chứng tật phong thấp vào cữ cuối thu dầm dề mưa ẩm và nhức nhối xương tủy. Nó là cái lả lay nhào lìa của lá bỏ cành. Nó là cái lê thê của nấm vô danh hiu hiu ngọc vàng so le, Nó là cái oan uổng nghìn đời của chỉ tơ con phím. Nó là một chuyện vướng vít nửa vời. Trong buồng thờ Chánh Thú, có tiếng cười sằng sặc ở sau cái bài vị. Bát hương bàn thờ sứ chẻ dọc làm hai mảnh, tiếng nẻ toác to gọn như mắt tre nổ trong lửa. Hai mảnh sứ nhào lăn xuống nền đất, kêu đánh xoảng. Riêng Cô Tơ nhận thấy tiếng đổ vỡ này và hiểu nó là điềm báo hiệu của một điều linh thiêng gì.

{…}

“Phía sau gáy Bá Nhỡ, vụt bay lên một con bướm đen loang lổ những chấm tròn hồng hoàng. Tinh hồn Bá Nhỡ đã xuất thoát ra kia đang díu đôi cánh ốm rồi biến dần vào bóng khuya. Một con châu chấu ma nổ ruột trên tim nến lả lay.”

Cảnh trên đặc sắc và kinh dị. Văn Nguyễn Tuân tới đây lộ rõ sự điêu luyện ít người đạt được, kể cả ngày nay. Phim không được như thế. Cảnh Bá Nhỡ (Đơn Dương) ngồi đánh đàn quá bình thường, không diễn tả được cực hình xen lẫn hoan lạc Bá Nhỡ đang trải qua, tuy tiếng đàn như mưa đổ, lúc nghẹn ngào khi ào ạt. Tuy nhiên, tiếng hát của cô Tơ quá xuất sắc, đớn đau và vời vợi trong ca từ thoát lên từ Tống Biệt của Tản Đà: Lá đào reo rắc lối thiên thai

Cảnh trong phim Mê Thảo, Thời Vang Bóng. Photo via Phố Văn Blog.

TN (tổng hợp)