Buổi sáng mùa Đông. Bầu trời Garland một màu xám xịt. Lá rụng đầy đường. Chợt nhớ màu lá bàng của mái ngói trong tranh Phố Phái. Nhớ cây bàng ở Vương Phủ ngày nào đầu Đông lá đỏ rụng đầy sân, mẹ và chị Thoa lấy thúng đi nhặt về đun bếp. Nhớ cây bàng mùa Đông trong nhạc Phú Quang. Và nhớ bài “Nhặt Lá Bàng” của Nhất Linh. Nhớ lắm. Từ nhiều hôm nay. Cho nên bảo vợ đi tìm (ôi Dung… ) cho bằng được bài văn của Nhất Linh, do nhà văn tự tay chép với lời đề tặng, trong cuốn lưu bút của nàng từ những ngày xa xưa thuở còn là cô bé học trò. Nguyễn muốn ghi lại trang viết đó vì nghĩ “Nhặt Lá Bàng” của Nhất Linh là một áng văn chương hay vào bậc nhất trong văn học cận đại. Chẳng những hay mà nhiều ý nghĩa nhân sinh. Chúng ta hãy đọc và lắng nghe tiếng lá bàng rơi trong những trận gió đêm.

Ở phía sau một gốc bàng, một cái bóng chạy ra. Tôi nhìn kỹ mới biết đó là một đứa bé, vào trạc mười tuổi, đầu nó chít một cái khăn đỏ phủ kín hai bên má, áo nó rách để hở cả hai vai. Một ít lá rụng ở cuối phố. Ðứa bé chạy vội lại. Một con bé ở sau một gốc bàng khác cũng chạy ra, rồi hai chị em -tôi đoán là hai chị em- chạy loăng quăng đuổi những lá bàng gió thổi lăn trên đường.

Một cơn gió lạnh nổi lên, lá rụng ào ào, một lát đã đầy đường.

– Mau lên chị ơi. Nhặt cả hai tay chị ạ.

– Tao bảo mày đem chổi đi, mày lại bỏ quên. Thằng nỡm. Tao đã biết trước là đêm nay có gió to. Mày chẳng nghe tao bao giờ, thằng nỡm.

Tôi mỉm cười vì thấy con bé mắng một cách thành thạo lắm. Ðứa bé không để ý tới lời chị nó, vừa nhặt vừa reo:

– Gió lên… Lạy giời gió nữa lên.

Chúng nó nhặt không ngừng tay, lá vẫn rụng không ngớt, nhiều khi vì màu áo lẫn với màu đường, tôi không nom rõ người, chỉ thấy hai cái bóng đen loăng quăng. Chúng chạy vọt ra xa rồi lại quay vòng trở lại, có khi đang chạy về một phía bỗng nhiên đứng dừng: một đám lá rơi lỏa toả trên người khiến chúng ngập ngừng bối rối không biết quay nhặt phía nào.

– Lạnh quá.

– Chạy mau lên cho ấm… Thằng nỡm.

Thấy chị mắng em luôn mồm là thằng nỡm, tôi mỉm cười đoán có lẽ tên đứa bé là Nỡm chăng.

Tôi tự nhiên thấy vui với chúng và mặc dầu trời rét, tôi cũng như chúng mong mỏi gió thổi thật mạnh.”

Hay và cảm động quá phải không các bạn. Chúng ta thấy vui với hai đứa bé nhặt lá trong đêm đồng thời thương chúng biết bao. Chúng ta cũng thấy yêu và gần gũi với mùa Ðông Hà Nội cùng với màu lá bàng đầy phố. Với kẻ viết những dòng này, những chiếc lá bàng ấy thật đẹp. Có thể không rực rỡ bằng lá cây maple hay red oak ở đây, nhưng chúng mạnh mẽ và gần gũi với những kỷ niệm ấu thời của ta hơn bất cứ thứ gì khác. Và nghĩ tới lá bàng là nghĩ tới mùa Ðông Hà Nội. Ðây, ta trở về lại với ca từ bài hát Em ơi, Hà Nội Phố của Phú Quang:

Xem thêm:   Chuyện của cỏ

Em ơi, Hà Nội phố

Ta còn em mùi hoàng lan

Ta còn em mùi hoa sữa

Con đường vắng rì rào cơn mưa nhỏ

Ai đó chờ ai tóc xõa vai mềm

 

Ta còn em cây bàng mồ côi mùa Ðông

Ta còn em nóc phố mồ côi mùa Ðông

Mảnh trăng mồ côi mùa Ðông

 

Mùa Ðông năm ấy

Tiếng dương cầm trong căn nhà đổ

Cảnh trong phim “The Pianist” – nguồn tes.com

Kẻ này phải mượn ca từ trong bài Em Ơi, Hà Nội Phố của nhạc sĩ Phú Quang để nói thêm một điều nữa. Ðó là âm nhạc. Vâng. Mùa Ðông năm ấy / Tiếng dương cầm trong ngôi nhà đổ. Những điều sắp viết ra đây liên quan tới tiếng đàn dương cầm của một nhà soạn nhạc, nhạc sĩ Wladyslaw Szpilman trong phim The Pianist của nhà đạo diễn đầy tài năng và tai tiếng – Roman Polanski. “The Pianist” từng đoạt 3 Oscar năm 2002 về diễn viên chính xuất sắc nhất (Adrien Brody trong vai W. Szpilman), đạo diễn xuất sắc nhất và kịch bản phim hay nhất. Cuốn phim kể chuyện một gia đình ở Warszawa, Ba Lan, bị tan nát vì thảm họa Ðức Quốc Xã ở những năm đầu của thập niên 40. Người nghệ sĩ dương cầm Szpilman đã đi qua tầng đầu địa ngục: Cha mẹ, anh chị em cùng với vô số người dân vô tội của xứ Ba Lan bị đánh đập hoặc bắn chết giữa lòng thành phố hoặc bị bức hại trong trại tập trung. Riêng Szpilman, nhờ may mắn, được đưa vào làm công việc khổ sai trong toán sản xuất rồi sau đó nhờ đôi vợ chồng nghệ sĩ Ba Lan cứu thoát. Cuốn phim đầy âm thanh và cuồng nộ với những hình ảnh thảm khốc khiến người xem bàng hoàng đau đớn, nhiều lúc tim thắt lại đến nghẹn thở. Riêng kẻ này đặc biệt xúc động với những sequences cuối cùng của cuốn phim, xúc động đến rưng rưng nước mắt. Ðây là nét nhân bản tạo thành giá trị của tác phẩm. Lúc bấy giờ, cả thành phố Warszawa chìm trong đổ nát, hoang vắng. Szpilman chạy trốn từ ngôi nhà này sang ngôi nhà khác, đói khát và lạnh cóng cùng với những thương tích tưởng chừng có thể lấy đi mạng sống của anh bất cứ lúc nào. Anh phải đi sục sạo tìm chút thực phẩm còn sót lại để cầm hơi. Ðau đớn, sợ hãi, cô đơn nhưng Szpilman không quên quá khứ âm nhạc và tiếng đàn của mình. Thỉnh thoảng, trong những lúc quạnh vắng, tiếng đàn xưa lại vang lên trong đầu. Thời gian trôi qua, và hạnh phúc cũng tưởng chừng mất dấu tích. Một hôm đang tìm cách đục một hộp đồ ăn, nhìn lên, Szpilman rụng rời thấy một viên sĩ quan Ðức Quốc Xã đứng trước mặt mình. Viên sĩ quan hỏi anh làm gì ở đây và biết được Szpilman là nhà soạn nhạc và danh thủ dương cầm lừng danh của xứ Ba Lan. Là người có học và yêu âm nhạc, nghệ thuật, viên sĩ quan đưa Szpilman qua một phòng bên, chỉ chiếc dương cầm đầy bụi và những mảnh vỡ, bảo anh đánh đàn. Ngồi trước chiếc dương cầm như trước người yêu thất tán vừa tìm lại được, Szpilman xúc động nghẹn ngào. Rồi những âm thanh vang lên trong căn nhà đổ, vang lên như lửa reo, suối chảy trong khi ngoài trời bông tuyết bay trên gạch đá của những ngôi nhà mặt trăng. Có vậy sao, trong cảnh địa ngục a tỳ này, còn có được âm nhạc sao, nghĩa là còn có chút hạnh phúc và hy vọng. Viên sĩ quan của phía thù địch đứng lặng người nghe tiếng đàn của Szpilman vang lên thánh thót, có lúc tuôn chảy như đường chim bay, khi ầm ầm như giông tố đi qua bầu trời. Kể từ bữa đó, viên sĩ quan Ðức đầy nhân ái tìm cách tiếp tế thực phẩm cho Szpilman, giúp anh sống dậy. Rồi Hồng quân Nga tiến vào giải phóng Ba Lan. Binh lính, sĩ quan Ðức trở thành những kẻ bị truy đuổi.

Xem thêm:   Cúc vàng

Viên sĩ quan Ðức cùng với các chiến hữu của ông bị bắt nhốt vào một khu tập trung. Ông nhắn tin cho Szpilman biết. Trong những năm tháng sau đó, khi thành phố Warszawa và toàn thể Ba Lan được giải phóng, Szpilman cố công đi tìm viên sĩ quan đầy nhân bản đã cứu mạng sống của mình, và cứu âm nhạc của loài người, nhưng anh đã hoàn toàn thất vọng. Cuối cùng, những hàng chữ kết thúc tấn bi kịch có tiếng dương cầm cho biết viên sĩ quan, có tên là Hosenfeld, đã chết trong trại tù Liên Xô.

Bạn hiền thơ ấu ơi,

Kết thúc phim buồn quá, phải không bạn nhỏ? Ôi, mùa Ðông năm ấy tiếng dương cầm trong ngôi nhà đổ. Vâng ít ra, trong cảnh địa ngục ấy còn có tiếng dương cầm, và trong những giờ phút tuyệt vọng nhất, nghệ thuật cũng đã đem đến cho chúng ta sự ấm áp và cứu rỗi.

TN

Dallas – TX