Năm 1885, có một bà người Pháp sang Mỹ lập nghiệp. Bà không biết một câu tiếng Anh, mang theo hơn 200 thùng hành lý, nhà chưa có, chỗ đứng cũng chưa. Bù lại, bà cao hơn 40 mét và cầm sẵn một ngọn đuốc. Chỉ 1 năm sau, bà đứng ngay cửa ngõ New York. Hơn 1 thế kỷ sau, bà đã thành một trong những người Mỹ nổi tiếng nhất thế giới. Kể ra, có những cuộc nhập cư thành công ngoài sức tưởng tượng.

Tượng nữ thần tự do ở New York         

Bà sinh ra ở Paris và lớn lên ở quận 17. Người Việt mình có Thánh Gióng, ăn một hồi rồi vươn vai thành tráng sĩ. Bà này cũng lớn nhanh không kém: từng mảnh đồng ghép vào, bà cứ thế cao dần giữa Paris, vượt quá những mái nhà chung quanh. Chỉ khác Thánh Gióng lớn lên để đánh giặc, còn bà lớn lên để cầm đuốc sang Mỹ.

Câu chuyện về người đàn bà kỳ lạ ấy đang được Musée d’Orsay tại Paris kể lại trong triển lãm Auguste Bartholdi – La Liberté éclairant le monde – Tự do soi sáng thế giới, từ ngày 15 tháng 9 năm 2026 đến ngày 31 tháng 1 năm 2027. Còn muốn biết bà đã ra đời như thế nào, phải quay lại hơn 160 năm trước.

Paris, musée d’Orsay 21/09/2026

Một ý nghĩ nảy ra trong bữa ăn

Năm 1865, theo câu chuyện vẫn thường được kể lại, Édouard de Laboulaye mời một số bạn bè đến dùng bữa tại nhà mình ở Versailles. Vị luật gia Pháp vốn rất ngưỡng mộ nền cộng hòa Hoa Kỳ hôm ấy nói với nhà điêu khắc trẻ Frédéric Auguste Bartholdi:

– Nước Pháp nên tặng nước Mỹ một công trình lớn để kỷ niệm 100 năm ngày Hoa Kỳ tuyên bố độc lập, đồng thời đánh dấu tình hữu nghị giữa hai nước.

Nước Mỹ khi ấy vừa ra khỏi cuộc Nội chiến, chế độ nô lệ vừa bị bãi bỏ. Với Laboulaye, nước cộng hòa bên kia Đại Tây Dương mang một lý tưởng mà nước Pháp của ông vẫn còn đang kiếm tìm: tự do trong một nền dân chủ.

Bao nhiêu ý tưởng lớn từng nảy ra quanh một bàn ăn rồi mất hút sau món tráng miệng. Ý tưởng này may mắn hơn. Bartholdi nhớ. Năm năm sau, ông đưa nó lên giấy. Và món quà ấy dần mang một hình hài: Tự Do.

Triển lãm Tự do soi sáng thế giới tại Musée d’Orsay, Paris, từ 15/09/26 đến ngày 31/01/27

Bartholdi vốn mê những công trình khổng lồ. Ông cho Tự Do mang hình một người đàn bà, đứng thẳng trong chiếc áo dài kiểu cổ, một tay nâng ngọn đuốc, tay kia ôm tấm bảng khắc ngày 4 tháng 7 năm 1776. Dưới chân là xiềng xích đã đứt, trên đầu là vương miện 7 tia.

Xem thêm:   O-ring

Thời ấy, đàn bà chưa được tự do bao nhiêu, nhưng Tự Do thì Bartholdi nhất định cho mang hình một người đàn bà. Mà bà này lại không chịu nép vào một góc cho phải phép. Bà phải đứng giữa trời, từ xa đã nhìn thấy. Tự do mà cứ quanh quẩn trong bốn bức tường thì kể cũng khó coi.

Nghĩ vậy, năm 1871, Bartholdi sang Hoa Kỳ tìm chỗ đặt tượng. Khi tàu tiến vào cảng New York, ông nhìn thấy Bedloe’s Island, một hòn đảo nhỏ ngay cửa ngõ thành phố. Ông biết ngay: bà phải đứng ở đây. Chỉ có điều lúc ấy bà chưa đứng được ở đâu cả. Bà vẫn còn nằm trên giấy. Đến giữa thập niên 1870, người đàn bà ấy mới dần có đủ mặt mũi, dáng đứng và một cái tên: La Liberté éclairant le monde – Tự do soi sáng thế giới.

Nữ thần Tự do nhìn từ đại lộ Courcelles, Paris, năm 1884. Tranh của Paul-Joseph-Victor Dargaud (1847-1914).

Nhưng tự do cũng cần tiền

Năm 1876, việc chế tác bắt đầu tại Pháp. Người Pháp làm tượng. Người Mỹ xây bệ. Mỗi bên một việc, nghe rất ổn. Cho đến khi người ta hỏi đến tiền. Lý tưởng thường có một nhược điểm: nói lên nghe rất đẹp, nhưng không trả được tiền đồng, tiền sắt, tiền thợ.

Thế là Tự Do phải tự đi kiếm tiền.

Bartholdi đem từng phần của bà đi trưng bày. Cánh tay cầm đuốc được đưa sang Philadelphia năm 1876. Đầu và đôi vai xuất hiện tại Triển lãm Thế giới Paris năm 1878. Ai muốn leo lên xem thì mua vé. Ông còn cho làm những phiên bản nhỏ để bán.

Thành ra trước khi soi sáng thế giới, Tự Do đã phải học một bài khá căn bản của đời sống: không có tiền thì khó đứng thẳng.

Tiền rồi cũng kiếm được. Nhưng lại nảy ra chuyện khác: làm sao bắt một người đàn bà bằng đồng cao hàng chục mét đứng giữa gió biển New York mà không ngã?

Xưởng Gaget, Gauthier & Cie ở rue de Chazelles, Paris, nơi Nữ thần Tự do được chế tác và lắp ráp.

Ban đầu, Bartholdi giao chuyện ấy cho Viollet-le-Duc, kiến trúc sư từng trùng tu Nhà thờ Đức Bà Paris. Sau khi ông mất năm 1879, Bartholdi tìm đến Gustave Eiffel.

Xem thêm:   Phật giáo & Vương quyền

Eiffel và các kỹ sư của ông tính toán bộ khung sắt bên trong, vừa đỡ lớp vỏ đồng, vừa giúp pho tượng chịu được những cơn gió biển New York. Bên ngoài là một người đàn bà uy nghi, đầu đội vương miện, tay cầm đuốc. Bên trong toàn sắt thép.

Nghĩ kỹ thì con người cũng không khác bao nhiêu: vẻ ngoài thế nào là một chuyện, đứng vững được hay không lại nhờ phần chẳng ai nhìn thấy. Paris đã giấu một phần mình trong lòng New York như thế.

Tượng Nữ thần Tự do được lắp ráp tại xưởng Gaget, Gauthier & Cie, năm 1884.

Một bà lớn vượt nóc nhà quận 17

Tại xưởng Gaget, Gauthier & Cie trên rue de Chazelles, gần Parc Monceau, người đàn bà bằng đồng bắt đầu lớn dần lên giữa Paris.

Từng mảng đồng được gò, ghép, sửa. Cánh tay, thân mình, những nếp áo, khuôn mặt… cứ thế nối vào nhau. Người đàn bà Bartholdi từng vẽ trên giấy mỗi lúc một cao hơn những mái nhà chung quanh. Đến năm 1884, bà đứng nguyên vẹn. Cao hơn 40 mét.

Người Paris đi ngoài phố chỉ việc ngước lên là thấy. Ngày nay, muốn diện kiến bà, phải bay sang New York, đi phà ra Liberty Island rồi qua cửa kiểm soát an ninh.

Ngày 4 tháng 7 năm 1884, bà chính thức được trao cho người Mỹ. Vậy là chuyện nhập cư coi như đã quyết. Bây giờ chỉ còn thu xếp hành lý để sang Mỹ định cư. Nhưng hành lý của bà hơi nhiều. Sau nhiều năm kỳ công ghép bà thành hình, người Pháp lại cẩn thận tháo bà ra. Pho tượng được chia thành hàng trăm mảnh, đóng vào hơn 200 thùng gỗ, đưa lên tàu Isère sang Mỹ.

Tháng 6 năm 1885, Nữ thần Tự Do cập cảng New York. Người Mỹ đón bà tưng bừng. Rồi mới phát hiện một chuyện hơi khó xử. Bà chưa có chỗ đứng.

Triển lãm Thế giới Paris năm 1878, trước khi pho tượng hoàn chỉnh được dựng lên và đưa sang New York.

Pháp làm xong bà, Mỹ chưa xong cái bệ

Theo thỏa thuận, Pháp lo pho tượng, Mỹ lo cái bệ. Người Á châu mình nghe vậy chắc chẳng lấy gì làm lạ. Cái bình còn phải có cái đế, mà cái đế ngày xưa gọi là cái an. Có an mới đặt bình lên được. Nữ thần Tự do muốn an vị ở Mỹ, hóa ra cũng phải lo chuyện an bình trước đã.

Xem thêm:   Sống ảo

Người Pháp làm xong phần của mình. Phía Mỹ làm được một hồi thì hết tiền. Tình cảnh hơi giống mời khách từ bên kia đại dương sang ở, đến lúc khách cùng hơn 200 thùng hành lý đứng trước cửa mới nhớ phòng vẫn chưa xong.

May cho Nữ thần Tự do, lúc ấy có Joseph Pulitzer. Chủ bút tờ New York World kêu gọi dân chúng góp tiền. Không cần phải giàu. Một đô-la cũng nhận. 50 xu cũng nhận. Ít hơn nữa cũng nhận. Ai góp, dù bao nhiêu, tên cũng được đăng trên báo.

Bộ khung kim loại bên trong Nữ thần Tự do, công trình kỹ thuật giúp lớp vỏ đồng khổng lồ đứng vững trước gió biển New York.

Và tiền bắt đầu gửi về. Người lớn góp. Trẻ con góp. Người có tiền góp. Người chẳng dư dả gì cũng góp. Cái bệ khổng lồ dưới chân Nữ thần Tự do cuối cùng được dựng nên từ rất nhiều món tiền nhỏ.

Nhưng đến đây, chuyện cái bệ không còn chỉ là chuyện tiền nong nữa. Một pho tượng có thể do một nhà điêu khắc tên tuổi nghĩ ra, một kỹ sư tính toán, một chính phủ trao tặng. Nhưng để nó thật sự có chỗ đứng, đôi khi cần đến rất nhiều người chẳng ai biết tên.

Ngày 28 tháng 10 năm 1886, Nữ thần Tự do được khánh thành tại New York. Món quà dự định cho lễ kỷ niệm 100 năm độc lập Hoa Kỳ năm 1876 đến trễ đúng 10 năm. Mười năm đối với quà sinh nhật là hơi lâu. Đối với một biểu tượng tồn tại hơn 1 thế kỷ, kể ra cũng không đáng bao nhiêu. Nước Mỹ nhận bà. Rồi nhận luôn làm người nhà.

Tượng nữ thần tự do ở Paris

Rồi bà trở về quê hương

Hơn 1 thế kỷ sau, Musée d’Orsay lần theo hành trình của người đàn bà ấy, từ những bản vẽ đầu tiên của Bartholdi đến ngày bà vượt Đại Tây Dương sang Mỹ. Thật ra, bà cũng chưa bao giờ rời Paris hẳn. Năm 1889, Paris có thêm một cô em sinh đôi của bà trên Île aux Cygnes – sinh sau 3 năm và nhỏ hơn nhiều. Lần này thì ngược lại: người Mỹ tặng người Pháp. Một món quà đáp lại một món quà.

Với hàng triệu người tìm đường sang Mỹ vào cuối thế kỷ XIX và đầu thế kỷ XX, người đàn bà cầm đuốc không còn chỉ là món quà của nước Pháp hay biểu tượng của một nền cộng hòa. Sau nhiều ngày lênh đênh trên biển, họ nhìn thấy bà từ boong tàu. Trước mặt là nước Mỹ. Quê nhà đã khuất xa phía sau.

Bước ra khỏi Musée d’Orsay, nắng chiều đã ngả trên sông Seine. Tôi chợt nghĩ đến những người Việt năm nào rời quê hương sang Mỹ, mang theo một ít hành lý và rất nhiều điều không thể xếp vào va-li. Không biết lần đầu nhìn thấy người đàn bà cầm đuốc đứng ngoài cửa ngõ New York, họ đã nghĩ gì. Có lẽ chẳng ai biết cuộc đời phía trước sẽ ra sao. Chỉ biết sau lưng là một quê hương đã khuất xa, trước mặt là một xứ sở phải học lại từ đầu.

Và giữa hai bờ ấy, ngọn đuốc của bà vẫn sáng.

Ngọn lửa Tự do bên cầu Alma. Đây là bản sao đúng kích thước ngọn lửa trên cây đuốc của Nữ thần Tự do ở New York.

TT