Mùa thu, thời tiết dường như dịu mát hơn sau những ngày “nắng lửa”, “cháy da” của một mùa hè khắc nghiệt. Cái gió hiu hiu, man mác, lá vàng rơi rụng theo từng cơn gió nhẹ thoảng qua. Mùa thu còn là mùa mà một số quốc gia vùng Châu Á, có thêm một “cái tết”, gọi là “Tết Trung thu”, hay cụ thể hơn là “Tết hoa đăng”, “Tết trông trăng” hoặc “Tết đoàn viên”…

Từ “Trung thu” xuất hiện đầu tiên trong Chu Lễ, bộ sách tổng hợp các nghi lễ có từ thời Tây Chu khoảng năm 1046 – 771 trước Công nguyên, trong triều đình, Trung thu là lễ tế thần Thái Âm Tinh Quân. Điều này vẫn đúng trong Đạo giáo và tín ngưỡng dân gian Trung Quốc xưa. Việc tổ chức Tết Trung thu như một lễ hội chỉ trở nên phổ biến từ đời nhà Đường, với tích “Đường Minh Hoàng du Nguyệt điện”, sau này có người lại nhắc đến tích “Hậu Nghệ gặp Hằng Nga” ở Trung Quốc. Riêng ở Việt Nam, thì Trung thu gắn liền với truyện cổ tích “Chú Cuội”, và đã trở thành câu ca dao:

“Thằng Cuội ngồi gốc cây đa

Để trâu ăn lúa gọi cha ơi ời

Cha còn cắt cỏ trên trời

 Mẹ còn cưỡi ngựa đi mời Hằng Nga…”

Theo nhà nghiên cứu lịch sử Phan Kế Bính viết trong tập “Việt Nam phong tục”, Tết Trung thu được truyền vào Việt Nam từ thời nhà Lý và đã tổ chức “treo đèn kết hoa” như một lễ hội chính thức vào chiều tối ngày 14 tháng 8 Âm lịch, kéo dài đến hết ngày Rằm 15 tháng 8. Trong ngày này, người lớn thường chúc tụng lẫn nhau về sức khỏe, mùa màng, và tặng quà cho trẻ em, phần lớn là bánh kẹo và đèn lồng đủ loại như đèn Ông sao, đèn giấy xếp, đèn cá chép, con thỏ, bươm bướm, thậm chỉ cả đèn Kéo quân, trông rất cầu kỳ và ngoạn mục

Xem thêm:   Sad Papaw

Lễ hội còn gồm có: Bày biện cỗ bàn trong nhà, phòng khách hay ngoài sân, vườn, đa phần là bánh dẻo, bánh nướng, hình tròn mặt trăng hay hình vuông có nhưn trứng gà, thập cẩm, với những hoa văn bắt mắt và mùi thơm hấp dẫn cùng với bình trà hay cút rượu, để nhâm nhi, đàm đạo và thưởng ngoạn vầng trăng rằm vằng vặc ở trên cao.

Riêng trẻ em, ở độ tuổi từ 6, 7 tuổi cho đến 14, 15, thì chơi trò “phá cỗ” ( chia bánh kẹo), nối đuôi rồng rắn, rước đèn đi khắp đường làng, ngõ phố, có thêm những mặt nạ hình chú Cuội, Hằng Nga hay thú vật càng thêm vui. Hoặc có nơi tổ chức xem múa lân, tiếng trống hội, tiếng trống lân, thôi thúc, dồn dập, càng khiến đêm lễ hội thêm phần hấp dẫn, sinh động.

Tùy năm, hay tùy điều kiện, ban tổ chức lễ hội Trung thu còn tổ chức khéo tay làm lồng đèn cho các em thiếu niên, nhi đồng, có thể làm ngay tại chỗ, hay làm trước ở nhà và mang đến, cùng với màn chấm điểm và xếp giải rất xôm tụ. Còn nhớ lúc đó, có gia đình một thí sinh đã sáng chế và làm ra một chiếc lồng đèn hình bản đồ Việt Nam, được ban giám khảo khen ngợi và tặng ngay giải đặc biệt với chiếc bánh Trung thu… to nhất năm ấy!

Trung thu cũng có những mùa… vui buồn, với thời tiết thất thường, sáng nắng chiều tối mưa. Nhìn bầu trời đen kịt, mưa như trút nước, còn “chị Hằng” thì trốn biệt tăm, biệt dạng mà thấy não lòng? Có khi đang rồng rắn rước đèn, ông trời bỗng đâm sụt sùi ngấn lệ, còn đám nhỏ thì chạy tao tác như gà con gặp diều hâu mà buồn!

Xem thêm:   Mỗi người một cuộc đời

Chợt nhớ những năm nghèo đói, ở vùng “kinh tế mới”, đèn đóm chập chờn. Đêm Trung thu không có bánh trái, rượu trà. Người lớn và đám con trẻ cùng nhau ngắm trăng suông mà cùng… ứa lệ. Tai lắng nghe tiếng trống lân thì thùng ở phố thị vọng lại mà ruột gan cồn cào sôi réo, vì bữa cơm chiều nhiều sắn, khoai và bo bo làm quặn thắt?

Nhiều năm rồi, làm thân phiêu bạt, xa quê hương cố thổ. Tết Trung thu như ở đẩu đâu, mặc dù vầng trăng “quê người” vào đêm Trung thu vẫn sáng trong veo ở trên đầu. Nghe con cháu hỏi “ Tết Trung thu là gì hả ông” càng thêm bối rối, nỗi nhớ quê nhà…

THV