Lên trung học đệ nhất cấp, năm đệ lục thầy Hải dạy Kim Văn cho chúng tôi đọc Anh Phải Sống của Khái Hưng để tập bình giảng. Cuối giờ Lâm Ngươn Tuyến, cháu Đề đốc Lâm Ngươn Tánh đặt câu hỏi: “Nhất Linh vào Nam còn Khái Hưng ở lại miền Bắc ra sao, thưa thầy?” Thầy Hải trầm ngâm rồi nói: “Ông bị Việt Minh đóng cũi trấn nước thả trôi sông năm 47”. Nguyên lớp im phăng phắc vì sợ. Những ai sinh trưởng trong các gia đình Bắc di cư đều nghe cha mẹ kể về sự tàn ác của Việt Minh nhưng vừa đọc xong áng văn gây xúc động với bao cảm phục rồi biết tác giả bị thủ tiêu tàn nhẫn như người ta dìm chó… Chính những chi tiết ấy, như Đại lộ Kinh hoàng, thảm sát trường tiểu học Cai Lậy, Chôn sống Mậu Thân 68 khiến chúng tôi, các nam sinh của trường Lasan Taberd mỗi sáng thứ Hai hát vang Tiếng Gọi Công Dân dưới lá cờ vàng mong muốn lớn lên làm Người Quốc Gia.
Trong nhiều thập niên cái chết của Khái Hưng vẫn còn là một bí mật. Người ta biết ông bị hành quyết nhưng không biết hết chi tiết. Sưu khảo của Thụy Khuê là nghiên cứu đầy đủ nhất cho đến bây giờ.
[Trần Vũ]
Phần 2 | kỳ 2
Thụy Khuê
Báo Chính Nghĩa nghỉ ba tuần
sau vụ toà soạn bị “tấn công”
Báo Chính Nghiã ra tới số 8 (8-7-46), thì bốn ngày sau, toà báo bị bao vây (12-7-46).
Việc công an xung phong bao vây tòa soạn Việt Nam, Trần Khánh Triệu chỉ viết vắn tắt:
“Hội nghị Đà Lạt tan vỡ, “Cậu Hàng Bè” [Nhất Linh] từ chức bộ trưởng rồi sang Tàu lần nữa. Các trụ sở Việt Quốc lần lượt bị tảo thanh. Công an xung phong đột nhập tòa báo lục soát, bắt bớ. Các đảng viên cao cấp như bác Hể, bác Đoá, Trí, Dị… bị đem đi biệt tích. Tờ Việt Nam đình bản… Toà báo ngoài Papa, chỉ còn lèo tèo vài đồng chí lai vãng: anh Bảng, Kính, anh Cống, bác Thắng…” [25]
Trần Khánh Triệu không có mặt ở nhà hôm tòa báo bị bao vây đêm 12-7-46, vì vậy Huy Quang Vũ Đức Vinh không nói đến người con trai nuôi của Khái Hưng trong bài viết. Việc các Các đảng viên cao cấp như bác Hể [Phạm Văn Hể], bác Đoá [Nguyễn Đình Đoá], Trí [Vũ Đình Trí tức nhà thơ Vũ Hoằng], Dị… bị đem đi biệt tích, là chuyện có thật, nhưng có lẽ họ không bị bắt ở toà báo mà ở chỗ khác.
Sau đó Chính Nghiã nghỉ ba tuần, đến ngày 29-7- 46 mới ra số 9, vẫn giữ nguyên đường lối cũ. Báo Việt Nam chắc cũng bị ngưng một thời gian, chúng tôi không có đầy đủ báo Việt Nam sau số 112 (31-3-46) nên không biết rõ việc này.
Tờ Việt Nam ra đến đầu tháng 12-46 mới ngừng, theo quảng cáo in trên báo Chính Nghiã và bài xã luận Toàn dân nhất trí (bị sắp chữ nhầm là Quân dân nhất trí) đăng trên Chính Nghiã số 27 (9-12-46), nói rõ lý do: Bởi vì dân tộc đang sửa soạn bước sang một trang lịch sử khác: Toàn dân nhất trí đoàn kết kháng chiến. Bài xã luận quan trọng này do Chàng lẩn thẩn chấp bút. Vậy Chàng lẩn thẩn là ai?

(Ảnh chân dung Khái Hưng Trần Khánh Dư)
Chàng lẩn thẩn là ai?
Nguyễn Tường Bách rời tờ Việt Nam vào tháng 2-46. Một tháng sau, trên Việt Nam số 95 (12-3-46) xuất hiện mục Chuyện lẩn thẩn, là bài báo đầu tiên ký tên Chàng lẩn thẩn, một tên tuổi mới. Bài này mở đầu như sau:
“Nước Pháp tự cho mình là có nền văn minh nhất hoàn cầu. Nước Pháp lại tự thấy mình không ích kỷ, chẳng lẽ có một nền văn minh cao như thế mà lại cứ bo bo giữ lấy, hưởng một mình thì nó khỉ khỉ thế nào ấy, nên các nhà cầm quyền Pháp ngứa ngáy thấy cần phải đem nền văn minh đó reo rắc cho những kẻ man ri biết. Và vì thế họ đã kéo đại đội văn minh đến giải đất Đông đương mình.
Và cái văn minh đầu tiên, chúng ta được biết là hoả lực của các pháo đạn, rồi chúng ta được biết cả những cái rất vô lý như những sự hà hiếp giết tróc.
Cái văn minh thứ hai là chúng ta có một nước mẹ để mà cung phụng, nếu không thì cái của cải của ta chắc chả biết dùng để làm gì…”
Với giọng văn như thế, Chàng lẩn thẩn được độc giả mến mộ ngay từ bài đầu.
Chuyện lẩn thẩn là một loại phiếm luận chính trị có chủ đề thâm thuý, đôi khi mượn chuyện này để nói chuyện khác, nhẹ nhàng mà sâu sắc, ví dụ nhân chuyện ép duyên ở quê ta ngày trước, nói đến đám cưới sơ bộ 9-3 ngày nay, một cuộc gả bán Pháp Việt ép buộc, sớm muộn rồi cũng tan rã.
Trừ một số người làm việc trong toà soạn, hầu như tất cả độc giả đều tưởng Chàng lẩn thẩn là Khái Hưng, tuy văn của Chàng lẩn thẩn không điêu luyện bằng và nếu thật chú ý thì cũng có chỗ tác giả ỡm ờ ngỏ cho thấy tuổi tác của mình, thí dụ trong câu này: “Nhân tiện hôm nào ông bạn yêu quý ấy lại tòa báo chơi để Chàng lẩn thẩn tự giới thiệu, bây giờ xin nói để ông bạn biết chàng ta mới có hơn hai mươi tuổi và xuốt [suốt] ngày cười” [26]. Mà dường như Khái Hưng cũng giữ bí mật, cố ý che đậy mọi hiểm nguy cho cây bút trẻ này. Mãi đến khi tôi đọc những hàng sau đây của Trần Khánh Triệu, mọi sự mới rõ ràng:
“Còn một chuyện chắc ít người được biết là trong thời kỳ đó ngoài việc hoạt động cho đảng ba tôi dự tính mở tờ Thời Phong, một tờ báo hoàn toàn có tính cách văn nghệ cùng với một đồng chí trẻ tuổi – anh Bảng (người phụ trách mục “Chuyện lẩn thẩn” trong tờ Việt nam ký tên Chàng lẩn thẩn– sau này khi chiến tranh bùng nổ anh bị bắt ở Bắc-ninh)” [27]
Trần Khánh Triệu đã vô tình cho ta biết gốc gác Chàng lẩn thẩn: “anh Bảng (người phụ trách mục “Chuyện lẩn thẩn” trong tờ Việt nam ký tên Chàng lẩn thẩn– sau này khi chiến tranh bùng nổ anh bị bắt ở Bắc-ninh”.
Vậy sự che đậy của Khái Hưng cũng vô ích, Chàng lẩn thẩn vẫn bị nhân diện và bị bắt, có thể cùng lúc với Khái Hưng.
Theo lời Nguyễn Thạch Kiên, trong toà soạn, lúc đó còn có: Hồ Lễ, Vũ Đình Trí (tức Vũ Hoằng tác giả tập thơ Hoàng Diệu, in năm 1943), Phù Bình Thảo (Nguyễn Văn Bảng), Đỗ Tốn, Trình Quốc Cang, Nhượng Tống, v.v… [28]
Vậy Chàng lẩn thẩn tên thật là anh Bảng, tức Nguyễn Văn Bảng. Và Nguyễn Văn Bảng còn có bút hiệu khác là Phù Bình Thảo, người viết tùy bút và làm những bài thơ ái quốc trên báo Chính Nghiã, và là bạn đồng hành của Đỗ Tốn trong chuyến sang Tàu, bởi vì Phù Bình Thảo có làm bài thơ Bằng hữu ca tặng Đỗ Tốn, nhắc lại những ngày cùng nhau phiêu bạt.
Chàng lẩn thẩn (Nguyễn Văn Bảng) còn là người cộng sự tin cẩn nhất của Khái Hưng, như lời Khánh Triệu:
“Dù trong một thời gian tình hình gay go đến như vậy ba tôi vẫn cùng anh Bảng say sưa hoạch định tương lai cho tờ báo. Hai người mướn một toà nhà ở phố Thái phiên (Chợ Hôm), mời cụ Phan Khôi, ông Tô Ngọc Vân lại bàn soạn. Qua câu chuyện của các người lớn đó (lẽ tất nhiên tôi chỉ được nghe lỏm) thì tờ báo sẽ ra mắt độc giả vào khoảng tháng Giêng, 1947. Tiếc thay dự định ấy chẳng bao giờ thành được” [29].
Tờ báo được Khái Hưng và Chàng lẩn thẩn, một nhân tài mới ngoài hai mươi tuổi, “say sưa hoạch định” là tờ Thời Phong, thuần túy văn nghệ, sẽ ra đời sau khi hai tờ báo đấu tranh Việt Nam và Chính Nghiã đóng cửa.
Tóm lại, Thời Phong đã được lên kế hoạch từ tháng 7-46, khi Phan Khôi ra Hà Nội ở nhà Khái Hưng, trước khi ông bị bắt ngày 12-7-46, tại toà soạn và bị dẫn độ lên Việt Bắc.
Báo Chính Nghiã số 28 (16-12-46), số chót, quảng cáo: “Thời Phong, tuần báo, văn chương, mỹ thuật, xã hội và không chính trị sẽ ra mắt Quốc dân vào đầu năm 1947”, ba chữ “không chính trị” in đậm và trang báo kế tiếp quảng cáo Nhà in và nhà xuất bản Quan Thánh, 80 đường Quan Thánh.
Như thế, Khái Hưng đã sắp đặt rõ ràng việc dứt khoát với quá khứ chính trị: Báo Thời Phong sẽ ở địa chỉ Thái Phiên và số 80 Quan Thánh trở thành nhà in và nhà xuất bản.
Việc đình bản tờ Việt Nam, Khái Hưng giao cho Chàng lẩn thẩn viết bài công bố lý do trên báo Chính Nghiã số 27 (9-12-46): Bài xã luận Toàn dân nhất trí (bị sắp chữ lầm là Quân dân nhất trí) giải thích tại sao có sự chia rẽ đảng phái: là vì hai luồng tư tưởng “quốc gia cần phải giữ” và “quốc tế cần noi theo” xung đột lẫn nhau, và cũng cần có tiếng nói ngược chiều để chính phủ nhìn thấy những gì cần thay đổi. Nhưng nay tình thế đã đến lúc nghiêm trọng, ý nói Pháp đã xâm lược và chính phủ đã quyết định chống lại, hợp với ý nguyện của toàn dân:
“Từ trước đến sau chúng tôi chỉ một lòng mong mỏi ở nền độc lập hoàn toàn cho tổ quốc, chúng tôi không được rõ thái độ của chính phủ, chúng tôi công kích chỉ để làm cho lòng dân hăng hái và luôn luôn nghĩ đến tổ quốc. Ngày Nay trong giai đoạn nghiêm trọng, chính phủ và toàn dân đều nhất trí trên con đường tranh đấu, đó là nguyện vọng của chúng tôi, và chúng tôi không còn mong ước điều gì hơn. Vì vậy, tờ báo Việt Nam đã đạt được mục đích của nó là “làm cho hành động của chính phủ hợp với ý muốn của toàn dân” mục đích đã đạt được thì sự đình bản của nó rất là hợp lý.” Chính Nghiã số 27 (9-12-46).
Đó là lý do khiến Khái Hưng đình bản tờ Việt Nam.

Báo Chính Nghĩa
Ban biên tập báo Chính Nghiã, ngoài Khái Hưng và Nhượng Tống, còn có những người viết rất trẻ, như Hồ Lễ, Đỗ Tốn, Chàng lẩn thẩn (Phù Bình Thảo) là những thanh nhiên vừa trốn sang Tàu, sống sót trở về, họ mới ngoài hai mươi tuổi, cùng vài cán bộ cao cấp như Vũ Đình Trí tức nhà thơ Vũ Hoằng (tuyên huấn), Nguyễn Xuân Tùng (tổ chức)… và một số người thường xuyên có mặt tại toà soạn như Nguyễn Mộng Công, Phạm Văn Hể (trị lý), Nguyển Đình Đoá (giao tế).
Trần Khánh Triệu cho biết, dần dần bác Hể, bác Đoá, Trí, Dị… bị đem đi biệt tích và Toà báo ngoài Papa, chỉ còn lèo tèo vài đồng chí lai vãng: anh Bảng, Kính, anh Công, bác Thắng…” [30]
Mặc dù số người viết rụng dần, nhưng dường như Khái Hưng vẫn bình chân như vại trước mọi biến cố. Trong mục Người và việc trên Chính Nghiã số 16 (16-9-46), Khái Hưng vẫn nhẩn nha đọc Chùa đàn của Nguyễn Tuân, đưa ra những lời khen ngợi tinh tế, kèm những lời phê bình không kém sắc bén, về cái nền văn học đang biến sang tuyên truyền “bài phong đả thực” mà ông gọi là “trụy lạc” này:
“Nhân vật trong truyện rất ngông rất đẹp và hoạt động và sống như những nhân vật của Bồ Tùng Linh. Đoản thiên ấy, tuy chỉ là một đoản thiên, cũng an ủi làng văn chúng ta được đôi chút trong cái thời sáng tác trụy lạc này.
Nhưng, chừng ông Nguyễn Tuân nhút nhát của chúng ta vẫn còn sợ cái “trụy lạc” ấy nó quật lại, sợ cái phong trào bài phong kiến nó “chà đạp” nên ông ta mới đi thêm vào đoản thiên của ông ta hai đoạn không thể vô vị hơn được: đoạn “dựng” và đoạn “mưỡu cuối”. Đó là hai viên đường trong chén trà “trảm mã” đấy ông Tuân ạ, ông đã nhận rõ chưa?”
Những lời cảnh báo này, Nguyễn Tuân không nghe, cho nên về sau mới có Hà Nội ta đánh Mỹ giỏi.
Hai tuần sau, trên Chính Nghiã số 18 (30-9-46), vẫn trong mục Người và việc, nhân ngày giỗ Vũ Trọng Phụng, Khái Hưng cho biết ông vẫn thân với Vũ Trọng Phọng, rồi miên man ông nói đến cách cụ Hồ viết báo và ta lại ngạc nhiên lần nữa, khi đọc những dòng này:
“Thời xưa trước khi đem một vở kịch vui lên sân khấu, Molière thường diễn thử trước cho vú già của mình nghe. Hễ vú già không cười là nhà soạn kịch bỏ đi viết lại liền.
Thời nay, theo báo “Ici Paris”, Hồ Chủ tịch ngày còn viết xã thuyết cho báo Cứu Quốc, trước khi đưa bài cho nhà in, bao giờ cũng đem đọc cho một đám người không biết chữ, những ông già và đàn bà cùng nghe. Nếu ông thấy thính giả ra lối chưa hiểu mấy những ý tưởng trong bài, thì lập tức ông xé đi để viết lại bài khác.
Những trí thức giản dị lớn lao thường gặp nhau, dù ở trên sân khấu hay ở trên đàn dư luận”.
Tháng 10-46, Hội nghị Fontainebleau thất bại. Pháp không chấp nhận Việt Nam độc lập. Chiến tranh khó tránh khỏi, Chính Nghiã số 19 (7-10-46), mục Người và việc đăng tin Phái đoàn Việt Nam về nước:
“Phái đoàn Việt Nam cất cánh sang Pháp hôm 30-6-1946 đã vượt trùng dương trở về tới nước nhà hôm 2-10-1946.
Được bình yên vô sự.
Và được đồng bào nhiệt liệt hoan hô.”
Tiếp đó là tin Hồ Chủ tịch sẽ về sau:
“Cùng đi với phái đoàn, Hồ Chủ tịch, thượng khách của nước Pháp, sẽ về tới nước nhà vào hôm 15 tháng này. Khác với phái đoàn đi tầu buôn, cụ đi tầu chiến”.
Câu này vang lên như một điềm chẳng lành.
Tháng 12-1946, chiến tranh đến. Mọi người đều sẵn sàng.
Tại nhà Hát Lớn, kịch Lôi Vũ của Tào Ngu do ban Hoa Lan trình diễn, thành công mỹ mãn, Giới Tử viết bài “Nhân đi xem Lôi Vũ, sự ngạc nhiên của đàn giơi ở nhà Hát Lớn” với những nhận xét lạ lùng về một điềm gở: con giơi phóng viên xuất hiện trên vòm nhà Hát lớn như nghe ngóng, nhà hát không còn một ghế trống, chứng tỏ sự thành công của vở kịch “giữa lúc mà mùi thuốc súng sặc trong không khí, giữa lúc mà trên các ngả đường ngoại ô, người ta tản cư trên tất cả các thứ xe, kể cả xe bò”.
Bản Tin tức hàng tuần, trên báo Chính Nghiã, số 28, có hai tin đáng chú ý:
Nguyễn Tường Tam rời Côn Minh đi Nam Kinh ngày 30-11-1946. Sau ta sẽ biết: ông đi Nam Kinh để lập Mặt trận Quốc gia chống Pháp.
Và tin Hà Nội:
“Quân lính Pháp vẫn khiêu khích. Họ vào nhà Thông tin tuyên truyền xé sách báo và viết bậy, họ cướp 29 con bò của một người Việt Nam trên cầu Long Biên. Đêm 10-12-46, lính Pháp quấy nhiễu khu hàng Bún, và đêm 12-12 chúng bắn súng ở khu hàng Đậu, hàng Giấy.
Hồ chủ tịch đã tuyên bố cùng phái viên báo Paris Sài gòn: Nước Việt Nam không muốn là nơi chôn vùi bao nhiêu sinh mạng. Nhưng cuộc chiến tranh người ta muốn chúng tôi phải làm thì chúng tôi sẽ làm. Đồng bào tôi và tôi, thành thực muốn hoà bình.”
Bản hiệp định sơ bộ đã bị xé.
(còn tiếp 1 kỳ)
[25] Trần Khánh Triệu, Papa nhà báo, in trong Nhất Linh người nghệ sĩ-người chiến sĩ, Nxb Thế Kỷ, California, 2004, trang 170.
[26] Chàng lẩn thẩn, Việt Nam số 153 (21-5-46).
[27] Trần Khánh Triệu, Ba tôi, báo Văn số 22, trang 18.
[28] Nguyễn Thạch Kiên, Khúc Nhạc dạo… in trong Khái Hưng, Kỷ vật đầu tay và cuối cùng, tập 2, t. 691-692.
[29] Trần Khánh Triệu, Ba tôi, báo Văn số 22, trang 18.
[30] Trần Khanh Triệu, Papa toà báo, in trên Thế Kỷ 21, số tưởng niệm Khái Hưng (tháng 12-1997). Sau in lại trong sách Nhất Linh người nghệ sĩ-người chiến sĩ, Nxb Thế Kỷ, California, 2004.










