Lên trung học đệ nhất cấp, năm đệ lục thầy Hải dạy Kim Văn cho chúng tôi đọc Anh Phải Sống của Khái Hưng để tập bình giảng. Cuối giờ Lâm Ngươn Tuyến, cháu Đề đốc Lâm Ngươn Tánh đặt câu hỏi: “Nhất Linh vào Nam còn Khái Hưng ở lại miền Bắc ra sao, thưa thầy?” Thầy Hải trầm ngâm rồi nói: “Ông bị Việt Minh đóng cũi trấn nước thả trôi sông năm 47”. Nguyên lớp im phăng phắc vì sợ. Những ai sinh trưởng trong các gia đình Bắc di cư đều nghe cha mẹ kể về sự tàn ác của Việt Minh nhưng vừa đọc xong áng văn gây xúc động với bao cảm phục rồi biết tác giả bị thủ tiêu tàn nhẫn như người ta dìm chó… Chính những chi tiết ấy, như Đại lộ Kinh hoàng, thảm sát trường tiểu học Cai Lậy, Chôn sống Mậu Thân 68 khiến chúng tôi, các nam sinh của trường Lasan Taberd mỗi sáng thứ Hai hát vang Tiếng Gọi Công Dân dưới lá cờ vàng mong muốn lớn lên làm Người Quốc Gia.

Trong nhiều thập niên cái chết của Khái Hưng vẫn còn là một bí mật. Người ta biết ông bị hành quyết nhưng không biết hết chi tiết. Sưu khảo của Thụy Khuê là nghiên cứu đầy đủ nhất cho đến bây giờ.

[Trần Vũ]

Phần 1   |   kỳ 2

Thụy Khuê

Lần cuối gặp cha

Trần Khánh Triệu thuật lại lần cuối cùng được gần cha:

“Qua tết (tết năm Hợi 1947) [nhằm ngày 22-1-1947] độ hơn tháng, vào một buổi trưa trong lúc không ngờ nhất ba tôi được một tên Công an dẫn về nhà. Hỏi ra mới biết vì Pháp mở cuộc tấn công lớn giải vây cho bọn chúng ở nhà Máy sợi, nhà Băng Nam Định nên Ủy ban quyết định đưa một số tội nhân đi nơi khác. Theo lời tên Công an ba tôi sẽ được đưa về Chi-nê (Ninh Bình). Hắn lại ngọt ngào nói với cả nhà:

– Tôi có cảm tình với ông nhà lắm, đi xa có chuyện gì tôi sẽ báo cho gia đình biết ngay. Cứ yên tâm… sở dĩ phải đi xa vì phải điều tra kỹ hơn. Cấp trên thế nào cũng hiểu trường hợp của ông… Thế nào rồi ông cũng được tha.

Cái vẻ tươi cười mơn trớn của hắn làm tôi thấy ghê ghê nhất là khi nhìn đôi mắt lươn him híp luôn luôn đảo quanh, quan sát mọi người trong nhà. Mặc bộ đồ kaki xanh lá cây, đeo huy hiệu Công an xung phong, khẩu côn bạt lặc lè cạnh sườn, hắn tỏ ý để tự do cho gia đình tôi nói chuyện với nhau.

Hồi này trông ba tôi tiều tụy hẳn, bộ dạ xám phai bạc màu, đôi mắt gần như dại đi, giọng nói yếu ớt gần như thều thào:

– Bị bắt lên Trực Ninh tôi bị hỏi cung liên tiếp nhưng cũng may nó không tra tấn gì. Chuyển sang Lạc Quần vì chỗ giam đông quá, thức ăn bẩn thỉu nên cái bệnh kiết hồi nào lại tái phát. Chúng nó kết tội tôi đủ thứ. Hôm nay nó bảo đưa đi Chi-nê nhưng không biết có thật không. Thôi sống chết có số cả!

Rồi ba tôi hạ thấp hẳn giọng xuống:

– Mấy hôm trước chúng nó có hỏi thằng Triệu có phải là con anh Nhất Linh không? Tôi có nhận nhưng nói nó làm con nuôi từ hồi còn bé nên nó không biết anh Tam là ai cả. Mợ phải cẩn thận mới được, tôi đi kỳ này không biết sống chết thế nào, đành nhờ Trời Phật cả.

Dặn dò được có bấy nhiêu lời tên Công an đã hối thúc lên đường. Khi ra tới cửa hắn còn quay lại leo lẻo nói với me tôi: “Ông không sao cả, bà cứ yên tâm, đã có tôi.”

“Cứ yên tâm đã có tôi”… nhưng từ buổi trưa ấy ba tôi biệt vô âm tín luôn. “Cứ yên tâm, đã có tôi “… nhưng bao nhiêu lá thư, lá đơn, mẹ tôi gửi lên Ủy ban tỉnh, lên Liên Khu III, cho người đi dò hỏi tận Chi-nê, Đầm Đùn cũng chỉ là công dã tràng!” [13]

Xem thêm:   Những dòng hoài niệm về Dalat xưa (kỳ 2)

Văn bản của Trần Khánh Triệu và Mai Ngọc Liệu, có vài chỗ không ăn khớp nhau, có thể vì trí nhớ qua thời gian có chút sai lạc: thí dụ Mai Ngọc Liệu kể khi Khái Hưng đến Lạc Quần, ông vẫn còn giữ được cái cặp da cũ đựng quần áo và đồ dùng, tối ông ngủ gối đầu lên cặp da và lấy áo măng-tô đắp chăn. Trong khi Trần Khánh Triệu, khi gặp cha trên đường đến Lạc Quần, không nói đến cái cặp này mà lại bảo cha dùng khăn quàng cổ làm tay nải gói quần áo.

Nhưng sự khác biệt lớn nhất là thời gian không ăn khớp:

– Mai Ngọc Liệu nói trước Tết, có “tên Thoại (công an xung phong) tới báo cho Khái Hưng biết rằng có lệnh mời anh lên “Trung ương” vì cấp tỉnh không có quyền thẩm vấn và xét xử anh”.

– Trần Khánh Triệu viết: “Qua tết (tết năm Hợi 1947) [nhằm ngày 22-1-1947] độ hơn tháng, vào một buổi trưa trong lúc không ngờ nhất ba tôi được một tên Công an dẫn về nhà. Hỏi ra mới biết vì Pháp mở cuộc tấn công lớn giải vây cho bọn chúng ở nhà Máy sợi, nhà Băng Nam Định nên Ủy ban quyết định đưa một số tội nhân đi nơi khác.”

Và chắc hai người đều viết đúng cả.

Như vậy, ta có thể suy ra: trước tết mấy ngày Khái Hưng được dẫn lên “Trung ương” và  sau tết độ một tháng ông được dẫn về nhà. Vậy trong một tháng Khái Hưng ở đâu?

Xem thêm:   Nợ của nước Mỹ

Nhờ câu này của Trần Khánh Triệu: “vì Pháp mở cuộc tấn công lớn giải vây cho bọn chúng ở nhà Máy sợi, nhà Băng Nam Định nên Ủy ban quyết định đưa một số tội nhân đi nơi khác” ta có thể hiểu là Khái Hưng bị giam ở Nam Định.

Rồi trong bài Papa nhà báo, in trên Thế Kỷ 21, ông viết câu này: “Một công an mang phù hiệu “Công an Thành Nam Định” hẳn hoi đi kèm”, càng nhấn mạnh thêm việc ông bị giam ở thành Nam Định.

Tóm lại, ta có thể đoán gần như chắc rằng: sau Lạc Quần, Khái Hưng được đưa lên “Trung ương” ở Nam Định để thẩm vấn. Và chắc Khái Hưng được lệnh không nói đến những ngày chót ông bị giam ở đâu, nên Khái Hưng chỉ vắn tắt nói với vợ như sau:

“Bị bắt lên Trực Ninh tôi bị hỏi cung liên tiếp nhưng cũng may nó không tra tấn gì. Chuyển sang Lạc Quần vì chỗ giam đông quá, thức ăn bẩn thỉu nên cái bệnh kiết hồi nào lại tái phát. Chúng nó kết tội tôi đủ thứ. Hôm nay nó bảo đưa đi Chi-nê nhưng không biết có thật không.”

Câu này cho phép ta đoán thêm rằng:

Ông bị bắt đưa lên Trực Ninh, bị hỏi cung nhưng không tra tấn. Chuyển sang Lạc Quần, vì thức ăn bẩn thỉu nên bệnh kiết lỵ tái phát. Ở Lạc Quần theo lời Mai Ngọc Liệu, ông không bị thẩm vấn. Nhưng sau đó: “Chúng nó kết tội tôi đủ thứ tội”, câu này chắc ý ông muốn chỉ “trung ương” Nam Định, và tại nơi này, ông đã bị tra khảo, nên Trần Khánh Triệu viết: “Hồi này trông ba tôi tiều tụy hẳn, bộ dạ xám phai bạc màu, đôi mắt gần như dại đi, giọng nói yếu ớt gần như thều thào”. Khi Khái Hưng nói với vợ con: Hôm nay nó bảo đưa đi Chi-nê nhưng không biết có thật không, là ông đã biết rõ số phận mình. Thêm nữa, người công an đi kèm tỏ ý cho gia đình tự do nói chuyện với nhau có lẽ là “ân huệ” chót dành cho người tử tù.

Tình cờ đọc được bài Những cái chết tức tưởi của nhà văn, chuyện bây giờ mới kể (kỳ 3) [14] của Thái Doãn Hiểu, trên Internet, tôi thấy những lời trong bài này có thể tin được vì người kể chuyện và người viết lại, đều không có ý phô trương điều mình biết. Thái Doãn Hiểu viết:

“Hồi còn dạy học ở thị trấn Vĩnh Bảo, Hải Phòng năm 1973, tôi (TDH) đã nghe chính miệng những du kích Thái Bình – những kẻ thừa hành bản án. Họ kể rằng họ được lệnh bỏ rọ trắn xuống sông nhà văn Khái Hưng – chủ soái của Tự lực Văn đoàn. Kẻ hành quyết kể lại thái độ của Khái Hưng rất bình thản, ung dung chui vào rọ nứa cho những kẻ chân đất đầu trần buộc giây, gài đá, vần xuống sông. Ở dưới đáy sông sặc nước, chắc nghẹt thở lắm… Khái Hưng chết chỉ vì ông là đảng viên đảng Đại Việt!”

Những dòng trên đây đáng tin vì người ghi lại chuyện này và kẻ có nhiệm vụ hành quyết, đều ở ngoài Bắc, họ cũng không biết rõ Khái Hưng thuộc đảng nào, và họ cũng không “thù Việt Minh” đến nỗi phải tạo ra những huyền thoại về sự “dã man” của Việt cộng như một số văn bản khác.

Xem thêm:   Thảo Cầm Viên Sài Gòn nơi lưu giữ ký ức

Sau cùng, trong bộ Lược truyện các tác gia Việt Nam, tập II, của Trần Văn Giầu, Nguyễn Tường Phượng, Nguyễn Văn Phú và Tạ Phong Châu, in năm 1972, mục từ Khái Hưng có câu:

Khái Hưng chết năm 1947 ở bến đò Cựa gà, huyện Xuân Trường, Nam Định”.

Câu này đã xác định Khái Hưng bị hại ở bến đò Cựa gà và cũng là sự thực bởi vì không ai có thẩm quyền hơn Trần Văn Giầu để viết những dòng như vậy.

Đến đây, ta có thể tóm tắt lại hành trình của Khái Hưng như sau:

Ngày 18-12-1946, Khái Hưng đưa gia đình về quê vợ bằng tầu thủy, dọc đường phải dừng lại lên bộ vì máy bay Pháp oanh tạc, rồi đi xe tay về làng. Hai ngày sau (20-12-46) tới Dịch Diệp. Ở yên trong hai hôm, đến ngày thứ ba (23-12-46), ông được công an đến nhà mời lên Uỷ ban Hành Kháng huyện Trực Ninh, tại đây ông bị thẩm vấn mấy ngày, sau đó được chuyển về trại Lạc Quần. Đến gần Tết Đinh Hợi [Tết là ngày 22-1-47], ông được dẫn lên “Trung ương”, không nói rõ ở đâu; nhưng qua những chi tiết của Trần Khánh Triệu, ta đoán là nhà giam trung ương thành phố Nam Định. Sau tết độ một tháng, ông được dẫn về thăm nhà lần chót. Rồi được đưa đến bến đò Cựa gà. Khái Hưng bị xử bỏ rọ trôi sông, sau Tết Đinh Hợi độ một tháng, tức là vào khoảng hạ tuần tháng 2-1947, tại bến đò Cựa gà, bên bờ sông Ninh Cơ, làng Ngọc Cục, huyện Xuân Trường, tỉnh Nam Định.

Những nhà nghiên cứu sau này muốn hiểu rõ hơn về cái chết của Khái Hưng, theo tôi, nên tìm xem “trung ương” ở Nam Định lúc ấy là ai? Tôi chắc không phải là một nhà chính trị, cũng không phải một nhà quân sự (sẽ rõ ở dưới), mà là một nhà văn. Bởi vì sự căm thù của đồng nghiệp thường đáng ngại hơn cả. Sau này, Trần Dần, Lê Đạt, cũng bị chôn vùi bằng ngòi bút của các nhà thơ.

(Xem tiếp Phần 2)

[13] Trần Khánh Triệu, Ba tôi, Văn số 22 (15-11-1964) số tưởng niệm Khái Hưng, trang 17-23.

[14] Bài này in trên mạng: tongocthao.Wordpress.com  ngày 17-9-2013.