“Hãy cho tôi một điểm tựa, tôi sẽ nhấc bổng trái đất lên” là câu nói nổi tiếng của Archimedes (287-212 trước Công Nguyên). Ổng là một nhà toán học, nhà vật lý, nhà phát minh huyền thoại người Hy Lạp. Hình của Archimedes được in ở mặt trước của Huy chương Fields, giải thưởng danh giá được coi là “Nobel Toán học” (vì giải Nobel không bao gồm lĩnh vực toán học), được Hiệp hội Toán học quốc tế (IMU: International Mathematical Union) trao 4 năm một lần cho những nhà nghiên cứu nổi bật.
Ơ-rê-ca (Eureka, nghĩa tiếng Việt là “tìm ra rồi”) là một giai thoại nổi tiếng về cách ra đời của “lực đẩy Archimedes” và của mục.. này.
Trong phòng mổ, một tích tắc tối tăm hay chiếc bóng râm che khuất cũng đủ định đoạt mạng sống bệnh nhân.
Trước năm 1919, các bệnh viện buộc phải “xin” ánh sáng từ mặt trời. Phòng mổ thường được xây ở tầng cao, được thiết kế với giếng trời và những khung cửa sổ khổng lồ để tận dụng ánh nắng. Đến đêm hoặc khi thời tiết xấu, người ta phải chuyển sang đèn cầy, đèn dầu hoặc đèn điện “cổ đại”. Những nguồn sáng này dễ dàng bị che khuất bởi một cái xoay tay hay nghiêng đầu của các y sĩ, bác sĩ phẫu thuật; vết mổ lập tức chìm trong bóng tối. Nhiệt lượng tỏa ra còn khiến không khí ngột ngạt như lò than.
Giáo sư Louis Vérain (1880-1962), kỹ sư điện người Pháp, lúc bấy giờ đang giảng dạy tại Khoa Khoa học, Đại học Algiers, đã giải quyết bài toán này bằng một phát minh mang tên “Scialytique” – từ tiếng Hy Lạp nghĩa là “xóa tan bóng râm”. Ông kết hợp thấu kính Fresnel vốn dùng trong hải đăng, bóng đèn kiểu đèn xe hơi, bao quanh bởi 50 tấm gương hình thang đặt nghiêng theo vòng tròn. Các gương phản xạ ánh sáng từ nhiều hướng xuống vùng mổ, tạo nên một trường sáng chồng lấp. Khi tay hoặc đầu bác sĩ che mất một phần ánh sáng, các tia sáng từ những hướng khác vẫn tiếp tục chiếu vào vết mổ, nhờ đó gần như loại bỏ hết bóng đổ.
Từ năm 1920, công ty Barbier, Bénard et Turenne đưa thiết bị vào sản xuất thương mại. Đèn Scialytique có mặt ở khắp các nhà thương châu Âu rồi toàn thế giới. Phẫu thuật không còn phụ thuộc vào ông trời. Bác sĩ có thể quan sát rõ từng mạch máu li ti, từng lớp mô mà không bị chói mắt. Nhiệt độ phòng mổ ổn định hơn, kiến trúc bệnh viện cũng thay đổi: phòng mổ trở thành không gian khép kín, vô trùng hoàn toàn.
Năm 1957, Raymond L. Jewell của American Sterilizer Company được cấp bằng sáng chế Mỹ số 2.798.938 cho một thiết kế đèn phẫu thuật chứa tay cầm có thể tháo rời (để dễ tiệt trùng sau khi dùng). Tay cầm được đặt ngay giữa góc “nón tối” – nằm dưới đèn trung tâm. Nhờ đó, bác sĩ có thể trực tiếp nắm tay cầm để điều chỉnh hướng đèn mổ khi cần mà không tạo ra bóng râm hay làm nhiễm khuẩn chéo giữa đèn và vết mổ.
Vào thập niên 1960, bóng halogen ra đời và dần được dùng trong đèn phẫu thuật nhờ cho ánh sáng mạnh và rõ hơn, nhưng lại sinh nhiều nhiệt, dễ làm khô mô bệnh nhân. Sang những năm 2000, công nghệ LED ra đời và nhanh chóng thay thế halogen nhờ ưu điểm ánh sáng lạnh, tiết kiệm điện và độ bền cao.
Theo đà phát triển của khoa học công nghệ, nguyên lý đèn phẫu thuật “vô ảnh” của “ông tổ” Vérain vẫn được duy trì đến ngày nay, nhưng nguồn sáng, hệ quang học và cách điều khiển đã thay đổi rất nhiều. Một số loại hiện đại đã có cảm biến nhận biết khi bác sĩ che khuất nguồn sáng và tự động điều chỉnh các cụm LED khác để bù sáng. Giờ đây, bác sĩ có thể cúi đầu, nghiêng người, thậm chí vẫy tay như đang chỉ huy dàn nhạc mà vết mổ vẫn sáng trưng.









