Một trong những quyết định thực sự đầu tiên mà một nhiếp ảnh gia mới phải đối mặt là kích thước cảm biến, và nó thường đi kèm với nhiều lo lắng hơn cần thiết.
Internet sẽ nói với bạn rằng cảm biến full frame là “chuyên nghiệp” và APS-C là “cấp độ cơ bản”, như thể cảm biến bên trong máy ảnh quyết định ảnh của bạn có tốt hay không. Điều đó không đúng. Kích thước cảm biến thực sự thay đổi khả năng zoom, khả năng chụp trong điều kiện thiếu sáng, mức độ làm mờ hậu cảnh, kích thước và trọng lượng của bộ thiết bị, và số tiền bạn chi tiêu, cả bây giờ và trong những năm bạn tiếp tục chụp ảnh. Hiểu rõ những sự đánh đổi đó một cách trung thực sẽ giúp bạn chọn được công cụ phù hợp thay vì công cụ đắt nhất.
Hướng dẫn này sẽ trình bày tất cả mọi thứ: hai định dạng là gì, hệ số crop thực sự có nghĩa là gì, sự khác biệt về phẩm chất hình ảnh, những lầm tưởng nên bỏ qua, các hệ thống ống kính âm thầm hạn chế bạn, chi phí thực tế và định dạng nào phù hợp với loại nhiếp ảnh nào. Nếu bạn vẫn đang làm quen với việc phơi sáng và cách hoạt động của máy ảnh, hướng dẫn Góc Nhiếp Ảnh của chúng tôi sẽ bổ sung tốt cho tất cả những nội dung bên dưới.
Giải thích về Crop Factor mà không dùng thuật ngữ chuyên ngành.
Đây là khái niệm đơn giản nhất thường gây nhầm lẫn cho người mới bắt đầu. Ống kính chiếu một hình ảnh tròn, và cảm biến nằm phía sau nó sẽ thu nhận một hình chữ nhật từ hình tròn đó. Cảm biến full frame thu nhận một hình chữ nhật lớn. Cảm biến APS-C nhỏ hơn thu nhận một hình chữ nhật nhỏ hơn từ giữa hình tròn đó, vì vậy nó nhìn thấy một khung hình hẹp hơn, bị cắt xén hơn thông qua cùng một ống kính.

Chúng ta mô tả góc nhìn hẹp hơn đó bằng một con số gọi là hệ số crop. Trên hầu hết các máy ảnh APS-C (Sony, Nikon, Fujifilm), hệ số này là 1.5x, và trên các thân máy APS-C của Canon là 1.6x. Để tìm ra trường nhìn thực tế bạn sẽ có được, hãy nhân tiêu cự của ống kính với con số đó. Một ống kính 50mm trên thân máy APS-C có hệ số crop 1.5x sẽ cho khung cảnh tương tự như ống kính 75mm trên máy ảnh full frame. Ống kính 35mm cho khung hình tương tự như 50mm. Ống kính 24mm cho khung hình tương tự như 36mm. Điểm khác biệt quan trọng, và là phần khiến nhiều người nhầm lẫn, là ống kính thực sự không trở nên dài hơn. Nó vẫn là ống kính 50mm. Bạn chỉ đơn giản là đang nhìn thấy một phần bị cắt xén của những gì nó chiếu.

Việc đó có hai mặt, và mặt nào nó tác động thì tùy thuộc vào đối tượng bạn nhắm chụp:
n Giúp tăng phạm vi chụp. Đối với chụp động vật hoang dã, chim chóc và thể thao, hệ số crop là một lợi thế. Ống kính tele 300mm cho khung hình tương đương ống kính 450mm trên thân máy 1.5x, hoặc 480mm trên máy Canon, giúp bạn có được phạm vi chụp xa hơn mà không cần phải trả tiền cho một ống kính dài hơn, nặng hơn và đắt hơn nhiều.
n Điều này có thể làm phức tạp việc chụp ảnh góc rộng. Đối với chụp phong cảnh, nội thất, bất động sản và thiên văn, việc crop lại gây bất lợi. Ống kính 16mm chỉ cho khung hình tương đương với ống kính 24mm trên cảm biến APS-C, vì vậy để có góc nhìn rộng thực sự, bạn cần sử dụng tiêu cự ngắn hơn, khoảng 10mm đến 12mm trong khi người dùng máy ảnh full frame sẽ sử dụng 16mm đến 18mm, và cần đảm bảo rằng máy ảnh của bạn có ống kính góc rộng như vậy.
Sự khác biệt thực sự về phẩm chất hình ảnh
Ngoài yếu tố khung hình, cảm biến lớn hơn có hai ưu điểm thực sự và một ưu điểm thường bị thổi phồng quá mức.
– Ưu điểm thực sự đầu tiên là khả năng chụp ảnh trong điều kiện thiếu sáng. Cảm biến full frame có diện tích bề mặt vật lý lớn hơn để thu sáng, giúp nó có lợi thế hơn khoảng một khẩu độ về độ nhiễu ở ISO cao và dải tương phản rộng hơn một chút, nghĩa là hình ảnh rõ nét hơn trong phòng tối và vào ban đêm, cũng như chi tiết được phục hồi tốt hơn từ vùng tối sâu.
– Ưu điểm thứ hai là khả năng làm mờ hậu cảnh. Với cùng bố cục và khẩu độ, full frame tạo ra độ sâu trường ảnh cạn hơn, tạo hiệu ứng hậu cảnh mềm mại, mịn màng, giúp tôn lên vẻ đẹp của ảnh chân dung. Một quy tắc chung là bạn cần mở khẩu độ khoảng một khẩu độ trên cảm biến APS-C để đạt được hiệu ứng tương tự, vì vậy khẩu độ f/2.8 trên APS-C cho độ tách nền tương đương với f/4 trên full frame.

Giá cả, kích thước và cảm giác khi mang theo
Đây là lúc quyết định trở nên thực tế hơn. Các máy ảnh APS-C tốt dành cho người mới bắt đầu có giá khoảng từ $650 đến $1,000, với các máy như Canon EOS R50, Canon EOS R10 và Nikon Z50 II nằm trong tầm giá đó, còn Sony a6700 cao cấp hơn có giá khoảng $1,400. Các máy ảnh full frame hiện tại có giá cao hơn, với Canon EOS R8, Nikon Z5 II và Panasonic Lumix S5 II đều có giá khoảng $1,500 đến $1,700. Khoảng cách về giá giữa các dòng máy đã thu hẹp trong những năm gần đây, nhưng vẫn còn tồn tại.
Chi phí lơn hơn, và thường bị người mới bắt đầu đánh giá thấp, chính là ống kính. Ống kính full frame lớn hơn, nặng hơn và nhìn chung đắt hơn so với các ống kính APS-C tương đương, bởi vì chúng phải tạo ra vòng tròn hình ảnh lớn hơn. Sự khác biệt này càng lớn hơn khi mua cả bộ thiết bị. Hai hoặc ba ống kính zoom full frame và một vài ống kính prime sẽ tốn rất nhiều tiền và nặng, trong khi các ống kính APS-C tương đương lại nhỏ hơn, nhẹ hơn và rẻ hơn. Nếu ngân sách của bạn có hạn, và hầu hết người mới bắt đầu đều có ngân sách như vậy, số tiền bạn tiết kiệm được khi mua hệ thống APS-C có thể dùng để mua những ống kính tốt hơn, giúp cải thiện chất lượng ảnh hơn là chỉ nâng cấp cảm biến lớn hơn.
Trọng lượng cũng không phải là vấn đề thứ yếu. Một bộ máy ảnh full frame là thứ bạn sẽ cảm nhận được trên vai vào cuối ngày dài, còn một bộ máy ảnh APS-C thì bạn sẽ quên mất sự hiện diện của nó. Máy ảnh tốt nhất là máy ảnh bạn thực sự mang theo, và đối với du lịch, leo núi, chụp ảnh đường phố và sử dụng hàng ngày, hệ thống nhẹ hơn sẽ được sử dụng nhiều hơn. Hãy nghĩ đến toàn bộ hệ thống trong nhiều năm, bao gồm cả những gì bạn sẽ mang theo một cách thoải mái, chứ không chỉ là giá của thân máy.
AN

Nhiếp ảnh gia; cộng tác viên Trẻ Magazine. Hiện cư ngụ tại Breslau, Canada.






