Sau khi công bố Việt Nam là quốc gia vi phạm nghiêm trọng nhất về vấn đề xâm phạm tác quyền (quyền tác giả, sở hữu trí tuệ), chính phủ Mỹ tiếp tục tuyên bố đã chánh thức mở cuộc điều tra đối với Việt Nam liên quan đến bảo vệ và thực thi sở hữu trí tuệ theo Điều 301 Đạo luật Thương mại Mỹ năm 1974, dưới sự chỉ đạo của Đại diện Thương mại Mỹ – ông Jamieson Greer.
Phía nhà cầm quyền cộng sản Việt Nam lập tức xoa dịu Mỹ bằng cách ra quân khởi tố và bắt giam hàng loạt chủ công ty thương mãi ngành văn hóa có hoạt động trên internet (Mỹ dễ thấy nhứt), còn những ai đang “ngọa hổ tàng long” thì vẫn cứ im im.
Văn phòng Thương Mại Hoa Kỳ đánh giá không sai. Hầu như trong tất cả các lãnh vực, ngành nghề nào, Việt Nam đều có xâm phạm bản quyền, nói nôm na là “bẻ khóa” (phần mềm/softwares), “sao chép lậu” (sách, nhạc, phim), “ăn cắp công thức, mẫu mã” (thuốc, quần áo, vật dụng sản xuất dưới tên khác), “nhái” (làm đồ giả thương hiệu) v.v… Việt Nam sản xuất đồ giả chỉ thua mỗi Trung Quốc mà thôi.
Nói về xâm phạm bản quyền thì phạm vi quá rộng lớn, vì vậy trong bài viết này tôi chỉ lạm bàn về các hình thức xâm phạm bản quyền trong sáng tác văn học nghệ thuật, nói nhẹ nhàng hơn là không tôn trọng tác giả của nguyên tác. Trong thời đại ngày nay, ai cũng có thể tự xưng mình là “tác giả” dù mình là “giả” (không thật) chớ không “tác” (làm), nhái na ná nhau cũng được rồi đường hoàng ghi tên mình chễm chệ ở mục “tác giả”.
Ngày xưa, để sáng tác một tác phẩm nào đó tác giả rất cực khổ, phải suy nghĩ về nội dung gồm những vấn đề gì, nhân vật như thế nào, thể loại của tác phẩm ra sao. Thời đó, dù chưa có luật về bản quyền, nhưng các cụ rất tôn trọng quyền tác giả. Không phải sản phẩm do mình nghĩ ra, hoặc mình chỉ nghĩ ra một phần, mà lơ đi tên tác giả gốc, ghi tên mình là tác giả thì đó là hành vi đánh mất danh dự người có học, các cụ không làm.
Cụ Hồ Biểu Chánh sau khi Việt hóa tác phẩm Bá tước Monte Cristo (Kích Tôn Sơn Bá Tước) theo bối cảnh Việt Nam, đặt tên mới là Chúa Tàu Kim Quy, thì không ghi Hồ Biểu Chánh là tác giả, mà ghi là Hồ Biểu Chánh phóng tác theo tiểu thuyết Bá tước Monte Cristo của nhà văn Alexandre Dumas.

Bìa bản in tuồng Lục Vân Tiên năm 1915
Cụ Tĩnh Trai Trần Lê Nhân, dịch và tập hợp lại các câu cổ văn Trung Hoa thành cuốn sách Hán Học Danh Ngôn (1928), cụ không ghi cụ là tác giả, mà là “biên dịch”, nhưng bản tiếng Việt này vẫn thuộc quyền sở hữu của cụ Trần Lê Nhân. Hay như cuốn Chuyện Xưa Tích Cũ xuất bản năm 1965 ghi lại các câu chuyện kỳ lạ truyền miệng trong dân gian Việt Nam, trên bìa sách ghi “Sơn Nam sưu tầm”. Trong lời tựa cuốn sách Việt Nam Phong Tục, cụ Phan Kế Bính tự nhận mình chỉ là “kê cứu cho biết cái nguyên ủy những phong tục của mình”. (Bản in của nhà xuất bản Khai Trí năm 1973). Các cuốn tái bản sau này lược bỏ lời tựa, ghi hẳn tên Phan Kế Bính là “tác giả”, như vậy là trái với tinh thần cụ Phan Kế Bính vậy.
Trong các sách giảng văn dùng cho học sinh ngày xưa, người viết sách dùng chữ “soạn giả” khi ghi tên mình trên cuốn sách. Hai chữ “soạn giả” định rõ công việc của người viết sách là “soạn” ra từ những áng văn, tài liệu có sẵn, không phải “tác giả” (người làm ra cái mới).
Đối với một câu chuyện, người sau viết lại, giữ nguyên hồn cốt, tiết tấu, chỉ sửa đổi cách diễn dạt và thêm thắt một số ít chi tiết, và những chi tiết này không làm thay đổi nội dung chính của câu chuyện, thông thường người trong nghề dùng chữ “chỉnh lý” để gọi công việc của người sau. Trường hợp dựa trên chất liệu truyền thống, viết mới lại toàn bộ gần như tách khỏi cốt chuyện cũ, hoặc lấy một chi tiết nhỏ trong cốt chuyện cũ đem ra khai thác mở rộng theo một hướng khác, khi đó mới gọi là sáng tác và người viết đường hoàng đứng tên tác giả.
Xưa các cụ dùng chữ “người viết”, “người đặt” để chỉ tác giả sáng tác ra bài hát hoặc tuồng cải lương đó. Sáng nghĩa là mới, tác là làm, sáng tác là làm ra cái gì đó mới chưa có ai làm. Chữ giả (đại từ) nghĩa là người, kẻ, không phải giả là dối (tính từ, động từ).
Dân gian có câu: “Miền Nam là cái nôi của cải lương”. Thật không hề sai. Tôi đang có cuốn e-book tuồng cải lương Lục Vân Tiên, ấn bản năm 1915, tác giả chuyển thể thơ lục bát qua tuồng là cụ Huỳnh Văn Ngà tự Long Ẩn. Đối với những tác phẩm đã có bài bản cốt truyện hoàn chỉnh hẳn hoi từ truyền thuyết dân gian (Việt Nam hoặc nước khác) thì không ai đòi bản quyền tác phẩm, nhưng khi chuyển thể thành tuồng của Việt Nam cần tôn trọng nguyên tác gốc, chỉ nên nhận mình là người chuyển thể, người chỉnh lý, dù thực tế không ai xài không bản chỉnh lý/chuyển thể của mình.

Bìa bản in sách Hán Học Danh Ngôn năm 1928.
Các tuồng tích xưa như Cửu Nhĩ Mạo Châu Kỳ, Đắc Kỷ Nhập Cung, Sơn Hậu, Hạng Võ Biệt Ngu Cơ, Trảm Trịnh Ân, Phụng Nghi Đình, Xử Bá Đao Từ Hải Thọ… xuất bản đầu thế kỷ 20, đến nay ngót 100 năm, mà các cụ Lê Văn Tiếng, Lê Ngọc Báu – Lê Văn Thiện, Trần Phong Sắc, Trương Quang Tiền, Phạm Thị Phượng… luôn đứng tên “người viết” (tuồng), “người đặt” (tuồng), “dịch giả”, không ghi tên mình là tác giả, dù cụ nào cũng chứa đầy bụng văn chương Nho học.
Các vở tuồng cải lương xưa này có đặc điểm là mỗi câu hát ra đều là chữ Nho và chứa điển tích văn học, người đời sau nghe khó hiểu. Một số nghệ sĩ bèn sửa câu chữ trong tuồng lại thành ngôn ngữ hiện đại cho người nghe dễ hiểu, rồi ghi hẳn tên mình vô phần “tác giả” tuồng thì rất là kỳ quặc, nếu không muốn nói là “chiếm dụng” giá trị tinh thần của người đi trước. May mắn là các “người viết”, “người đặt”, “dịch giả” đã qua đời từ lâu, con cháu thì không biết nay đã thế nào, nếu họ còn sống ở Việt Nam thì đó là chuyện dở khóc dở cười. Căn cứ theo luật hiện hành, không biết con cháu các cụ có nên đâm đơn đòi “đồng sở hữu” tác phẩm hay không?
Tôi thuộc hàng hậu sanh, chưa từng được coi phim ca nhạc Lương Sơn Bá Chúc Anh Đài của hãng Thiệu Thị Huynh Đệ (bản 1963, do Lăng Ba và Lạc Đế đóng vai chánh, ngôn ngữ tiếng Quan Thoại), đã từng chiếu rạp ở miền Nam trước 1975. Mới đây, tình cờ tôi thấy phim này trên YouTube, bèn nghe hết 2 tiếng 6 phút, và té ngửa khi hiểu ra từ nội dung, tình tiết, bài bản do diễn viên hát trong phim không khác gì tuồng cải lương nổi đình nổi đám ở Việt Nam. Nói cách khác, nhạc là của phim, lời là của phim, tình tiết chuyện là của phim, người Việt chỉ dịch nó ra tiếng Việt thôi. Nhưng thay vì ghi tên mình là dịch giả, thì người đó nhận hẳn mình là “tác giả” và nhận luôn nhạc trong tuồng là do chính mình “sáng tác”.
May mắn là người của hãng Thiệu Thị không biết nghe cải lương, và cũng có thể là họ không quan tâm tới bản quyền đối với một phim đã phát hành khá lâu?
Nói đi cũng phải nói lại, nếu chất liệu thuộc dòng truyền thống dân gian, ai cũng có quyền diễn đạt lại câu chuyện theo cách riêng của mình, nếu nội dung “mới” do mình tạo ra chiếm 90% trở lên đó là sáng tác.
Không đứng tên tác giả không có nghĩa tác phẩm mình viết ra là của vô chủ, mà nên dùng từ ngữ khác thể hiện sự khiêm tốn như các cụ ngày xưa. Việc xưng xưng tự nhận “sáng tác” coi chừng “lợi bất cập hại”.
TPT
Giải thích từ ngữ:
– Đốn thủ : là một thuật ngữ chỉ nghi thức lạy dập đầu sát đất để tỏ lòng cung kính, tôn trọng hoặc tạ tội tột bậc. Trong văn hóa phương Đông cổ đại và Phật giáo, đây là một trong những hình thức hành lễ cao nhất thể hiện sự quy phục hoàn toàn và thành tâm tuyệt đối.










