Trời vẫn âm u, mưa, lạnh dù đã qua rằm tháng chạp, mấy năm trước giờ này mọi người đã chộn rộn sắm Tết, chuẩn bị chạp mã, tôn tạo mộ ông bà. Vậy mà năm nay tất cả như đứng lặng, như trong cuốn phim bị lỗi, thời gian như ngưng đọng.
Những ngày này, tôi nhớ bà, nhớ tiếng chân bà bước đi trong đêm, nhớ cách bà ngồi trước cửa nhìn giàn cây trước hiên nhà, nhớ tiếng bà hỏi hôm nay đi chợ mua gì vậy con, nấu món gì mà thơm dữ.
Mẹ tôi, một người mẹ Việt Nam bình thường như bao người mẹ khác, nhưng với tôi, bà là tất cả. Bà là tấm gương cuộc đời, nghị lực vươn lên qua bao thăng trầm, trong một xã hội điêu linh, chiến tranh, rồi thay đổi chế độ, rồi những cú sốc cuộc đời, bà vẫn đứng vững, vẫn vượt qua để nuôi dạy đàn con 9 đứa nên người.
Tôi nhớ, những năm 60, 70 ở Miền Nam Việt Nam, các bà các cô ra đường đều mặc áo dài chít eo, bà gánh hàng rong thì mặc chiếc áo dài vải kate bình dân, các cô các bà đi làm công sở thì mặc lụa, xoa, các thiếu nữ đến trường thì mặc tơ tằm… tha thướt đủ kiểu, tùy tình hình địa vị xã hội, môi trường mà ăn mặc, nhưng tất cả đều chỉn chu, dù giàu hay nghèo ra đường là chiếc áo dài, chỉ khác nhau ở chất liệu, kiểu dáng. Mẹ tôi, thường mặc chiếc áo dài màu thiên thanh kẻ ô nhỏ, tóc phi dê ngắn, đeo kính trắng, mang hài đính hạt.
Ngày nhỏ, tôi thường ngồi trên vỉa hè trước nhà ngóng bà đi chợ về. Tôi nhớ, năm tôi còn bé lắm, tôi đi cắm trại trong Hội Hồng Thập tự thành phố về bị viêm phổi, bà đến bên giường chích thuốc cho tôi, những mùa thi học bài khuya, bà đem từng ly sữa cho tôi uống. Ngày tôi mới lớn, bà là người dẫn tôi đi làm đẹp, bắt tôi đi đến tiệm ông Đê uốn tóc, gội đầu, se lông mặt, tỉa lông mày, tay chân phải cắt sạch gọn, móng tay phải sơn màu nhã. Con gái phải biết làm đẹp, ra đường phải đoan trang, giữ phẩm hạnh. Đi đứng, nói năng cho ra người trong gia đình gia giáo, phải biết giữ nếp nhà. Bà là người kiêu sa, nghiêm túc, ít đùa giỡn, dạy con rất nghiêm khắc. Sẵn sàng hy sinh tất cả vì con, bà là người nói là làm, hào phóng, rộng rãi với con cháu.

Thế hệ chúng tôi ngày nay, đàn con gái của bà, không ai bằng bà, không thể nào dạy con chỉn chu như cách bà đã dạy chúng tôi.
Mới hai năm trước thôi, bà muốn về quê thăm mộ bà ngoại, thăm lại ngôi nhà xưa. Chị em tôi bỏ hết công việc đưa bà đi.
Mẹ tôi con gái Cửu Lợi xứ dừa Tam Quan, ngày xưa con gái làng này đẹp có tiếng.
Dòng họ ngoại tôi người Tàu đến An Nam lập nghiệp có lẽ đã lâu lắm rồi từ thời nhà Nguyễn. Nói như nhà thơ Bích Khê mẹ tôi là những nàng lai khách.
Mẹ nói ông cố tôi làm nghề bốc thuốc, có một sở muối rộng lớn. Bà ngoại tôi mất khi chúng tôi còn nhỏ, tôi chỉ nhớ mỗi lần bà vào Quy Nhơn thăm cháu thường cho chúng tôi bánh ổ, bánh in đậu xanh giòn bọc giấy xanh, đỏ làm thành từng cây. Tôi thường lân la bóp chân ngoại mỗi lần bà than mỏi. Bà tôi hiền lắm. Rồi một lần tôi thấy mẹ vội vã về quê, khi trở về đầu mẹ chít khăn tang. Đêm nào mẹ cũng khóc, chị em tôi biết rằng mình đã mất ngoại.
Mộ bà ngoại tôi nằm ở khu mả A Sầu, khu mả dành riêng cho người Tàu. Bà tôi họ Thái một trong những dòng họ Tàu đến sớm ở làng này. Sau năm 1975, mả A Sầu bị lấn chiếm, san phẳng. May thay dòng họ Thái có một khu đất riêng nằm trong khuôn viên của một vườn dừa có người chăm sóc. Mộ bà tôi vẫn còn. Chị tôi kể, ngày chị học lớp 3, lớp 4 mẹ gửi chị về ở với ngoại, khu mộ A Sầu ngày đó rất đẹp, xanh mát, là khu vui chơi yêu thích của trẻ con. Từ xa đã nhìn thấy một khuôn viên rộng lớn bao quanh là giàn hoa giấy đỏ rực, mỗi ngôi mộ đều trang trí cây cảnh, đá sỏi như một ngôi nhà. Giờ nó đổ nát, không còn gì nữa. Mỗi lần về quê thăm mộ bà tôi thường thắp hương chung quanh những ngôi mộ cổ viết bằng tiếng Hoa, năm nay tôi về ngỡ ngàng trước cảnh hoang tàn, những ngôi mộ xưa không còn nữa. Từ sau năm 1979, người Tàu ra nước ngoài, con cháu họ không còn ai, bên họ ngoại tôi cũng vậy. Có lẽ vì con cái ở xa không ai hương khói, nên con cháu về hốt cốt đem về chùa cho an lành, ấm áp hơn. Tôi thấy còn sót lại vài ngôi mộ vắng chủ, hiu quạnh nằm ven đường, nhìn tấm bia mà ngậm ngùi.
Thắp hương cho ngoại xong, chúng tôi đi thăm căn nhà của ngoại ở nay giao cho cậu Mười trông coi. Trên đường đi mẹ vui lắm như trẻ lại, mẹ kể chuyện thời mẹ đi học, kể chuyện về ông bà tôi.
Ông ngoại tôi hiền, là người có học. Thời Việt Minh chống Pháp ông làm tín phiếu ở Quảng Ngãi. Bà tôi bán vải ở thị trấn. Mẹ tôi được ông bà ngoại cho đi học, thời xưa con gái được đi học rất ít, với chị em tôi bà là một phụ nữ cấp tiến so với thời đại ngày ấy và cả ngày nay.
Chuyến đi này mẹ vui, mẹ cười, mẹ đọc thơ Bà Huyện Thanh Quan, mẹ hát cho chị em tôi nghe những bài hát Tín Phiếu ông ngoại dạy khi bà còn nhỏ, những bài chống Pháp khi bà còn đi học.
Tình cờ mẹ gặp lại người bạn cũ trong xóm, đã gần 60 năm trôi qua, hai cụ bà trên 90 mà ríu rít, mà hớn hở, chị em tôi xúc động nhìn hình ảnh của họ, như một cuốn phim quay ngược, tuổi trẻ ngày xưa của mẹ ùa về qua ký ức của người bạn gái.
Buổi chiều, chúng tôi đi Hoài Ân về thăm lại ngôi nhà cũ của ba mẹ, nơi bà về làm dâu và để lại thời thanh xuân. Ngôi nhà có hàng cau vươn cao trước nhà, cánh đồng xanh mát và hàng chuối ven đường. Cái giếng nước vẫn còn đó. Ngôi nhà của ba mẹ cổng đóng then cài, năm trước u già đã mất nay bỏ hoang. U là người đã đút cho tôi ăn khi tôi mới mấy tháng tuổi mà mẹ tôi thường kể. U gọi Thúy Thúy hà hà là tôi há miệng ra. Đây là mảnh đất “chôn nhau cắt rốn” của tôi, cuốn rốn của tôi mẹ đã chôn ở góc cau nào, có phải góc cau trĩu qủa mà tôi đang đứng hay không? Mày có quẫy đạp dưới lòng đất khi nhận ra tao, những tế bào của tôi đang run rẩy.
Tôi ngồi bên thân dừa bị đốn ngã trước cổng nhà, đắm mình trong hương lúa, trong tiếng gió rì rào, nhìn về căn nhà bỏ hoang của ba mẹ thấy cuộc đời thật hư vô.
Hai năm đã trôi qua, từ ngày về chốn cũ, mẹ không còn minh mẫn nữa, mắt đã mờ chân đã yếu, vậy mà hè vừa rồi, bà bảo ước mong của mẹ là về quê sửa sang mộ bà ngoại lại cho đàng hoàng hơn, bà thương ngoại. Bà kể những năm bà làm dâu xa, mỗi lẫn ngoại đến thăm con đều gánh hai đòn gánh quà cho lũ cháu. Những ngày nằm cấp cứu ở bệnh viện mẹ quay về lại tuổi thơ, bà gọi ông bà ngoại luôn, trong đêm bà cứ gọi ba ơi, mẹ ơi. Ba ơi, con lạnh quá, ôm con đi ba. Tôi ôm bà, tôi khóc trong câm lặng. Hai tháng trời, bà nằm ở phòng hồi sức đặc biệt, chị em tôi thay phiên nhau trực cả ngày lẫn đêm, tuần cuối, ngày ngày trôi qua nhìn thân xác bà đau đớn thay đổi từng chút, chúng tôi đau khổ mà không biết phải làm sao. Giờ mẹ đã về với ông bà ngoại tôi, về với ba tôi, anh hai tôi. Cuối cuộc đời con người rồi cũng trở về chốn cũ, chốn của tuổi thơ, chốn của gia đình.
Đêm nay, gió vẫn thổi, mưa vẫn rơi, đất vẫn trở mình, đêm… nghe cả tiếng cựa mình của những chiếc lá đang nhú mầm non.
Có phải Cái Chết bắt đầu cho Sự Sống ở một thế giới vĩnh hằng.
BM
Mùa Phật Đản 12.5.2026











