Ở xứ Bắc Mỹ này chúng ta không lạ gì các bảng hiệu ở một số cửa hàng “Open 24 hours” nghĩa là mở cửa cả ngày lẫn đêm .
Nhưng cũng chưa rõ nghĩa lắm, bởi sẽ có người cắc cớ hỏi “24 hours nhưng có ngày nào nghỉ không”, thế là có ngay các tiệm “24/7” tức là mở cửa 24 giờ một ngày và 7 ngày trong tuần.
Vẫn chưa hết, có lần ở Arlington Texas thăm gia đình, tôi đã thấy một tiệm Walmart rộng lớn bề thế, khách ra vào tấp nập, dĩ nhiên là mở cửa 24 hours, với tấm bảng thật to và hàng chữ đầy kiêu hãnh: “WE NEVER CLOSED”, vậy là khỏi có ai thắc mắc suy nghĩ cho mệt đầu mệt óc!
Tháng 8/2021 tôi lại bay qua Arlington dự đám tang của Ba .Tối hôm đó, khoảng hơn 10 pm, tôi cần một món đồ, nhưng các cửa tiệm khác đều đã đóng cửa, tôi chợt nhớ đến Walmart và nói với anh tôi:
– Ôi, may quá, còn tiệm Walmart “never closed”, chúng ta hãy đến đó!
Anh cười:
– Hồi năm 2020, khi dịch Covid đến cao điểm thì tiệm đó đã phải đóng cửa cuối tuần, còn hàng ngày chỉ mở đến 10 pm, bây giờ vẫn còn đang dư âm mùa dịch, nên tiệm tuy đã mở lại 7 ngày nhưng chỉ đến 10 pm thôi em ơi! Còn đâu cái thuở Never…
Cái bảng “We Never Closed” làm chúng ta liên tưởng đến câu slogan của tàu Titanic trước đây: “It is unsinkable. Even God himself could not sink this ship”. (tạm dịch là, con tàu không thể chìm, ngay cả Thượng Đế cũng không thể làm con tàu này chìm), và kết quả ra sao thì ai cũng biết rồi.
Cả hai câu trên, là một sự kiêu ngạo, thách thức đấng tạo hóa, coi thường vũ trụ thiên nhiên, khi thực tế rất rõ ràng, rằng trần gian này, chẳng có gì là mãi mãi.
Té ra, cái câu “Never say Never” luôn luôn đúng. Mà ngay cả câu này cũng bắt đầu bằng “Never” là cũng không nên, thôi dịch qua tiếng Việt cho nhẹ nhàng, bớt “kiêu hãnh”:
– Đừng nói… Không Bao Giờ!!

Bảo Huân
Nhân đây, tôi xin kể một câu chuyện, cũng liên quan đến “Không Bao Giờ”.
Con tàu vượt biên của chúng tôi dạt vào bờ biển Thailand một đêm tối tháng 12 năm ấy, cả 41 người đứng co ro trên bãi đá ong, nhưng không thể bơi vào bờ vì mực nước sâu, vả lại trong nhóm còn có người già và trẻ con, nên có hai cậu thanh niên trẻ tình nguyện bơi vào làng chài gần đó, cầu cứu, và họ đã mang hai con thuyền tam bản đến gần chỗ chúng tôi. Qua lời thông dịch của một người biết tiếng Thái trong tàu, họ chỉ cho phép mỗi lần 3-4 người leo lên thuyền, đưa họ tiền vàng, họ sẽ cho vào bờ, rồi lại quay lại tiếp tục cho đến khi hết 41 người. Chúng tôi lần lượt xếp hàng, cũng có người nóng vội chen lấn, trong đó có chú Sanh và thằng con hơn 10 tuổi, vừa bước ra khỏi bãi đá ong, lội hướng ra con thuyền thì bị ai đó đẩy lại, té xuống biển, sặc nước. Chú vừa quay lại bãi đá ong, mặt tức tối:
– Thằng Băng! Nó đẩy hai bố con tôi xuống biển, từ nay tôi sẽ không bao giờ nhìn mặt và nói chuyện với nó nữa.
Nhiều người góp ý:
– Chắc trong lúc lộn xộn nên hắn vô ý thôi!
Chú Sanh vẫn gân cổ:
– Không thể vô ý được! Nó cùng hai cha con tôi bước ra khỏi bãi đá, nó phải biết chớ! Suốt hai tuần qua ở Cambodia tui bao nó ăn uống, bây giờ nó đành đoạn tranh giành lên thuyền trước với cha con tui! Tui thề …
Tôi liền xen vào:
– Thôi chú ơi, con vẫn nghĩ chỉ là bản năng tự nhiên khi chấp chới dưới nước, vì trước sau ai cũng lên bờ mà, có gì mà giành giựt ?
Chú vẫn không yên, mặt sưng sỉa, lẩm bẩm suốt buổi, cho đến khi cả nhóm được đưa vào bờ an toàn, đầy đủ.
Khi nhập trại lớn, nhóm tàu chúng tôi ở gần nhau, chung một khu nhà, và hôm đó tôi thấy chú Sanh ngồi ăn nhậu với chàng Băng mà chú đã từng thề không nhìn mặt. Sau đó chú có giải thích với tôi:
– Cô biết không, tại hắn mở lời xin lỗi, nên tui tha thứ bỏ qua cho nó.
Tôi cười mỉm chi:
– Thì con đã từng nói với chú mà, đừng bao giờ thề “không bao giờ!” như đinh đóng cột, rút kinh nghiệm nghen chú.
Thời gian sau đó, trại có cuộc biểu tình quy mô lớn để chống lại chương trình cưỡng bách hồi hương. Nửa khuya, theo sự sắp xếp, cả trại nghe tiếng nồi niêu xoong chảo khuấy động, rồi nhà này nối tiếp nhà kia, từng đoàn người lũ lượt kéo nhau ra cổng trại, phá hàng rào, thông qua trại bên cạnh, biển người như làn sóng phô trương sức mạnh của đoàn người tỵ nạn quyết không chịu lùi bước, không muốn quay về nơi chốn đã dứt áo ra đi. Sau khi phá trại, đoàn biểu tình quyết định… ôn hòa, sẽ ngồi ngoài đường cái, bên cạnh dàn xe tăng súng ống của lính Thái, qua hai ngày đêm, và chuẩn bị cho ngày cuối, sẽ có người tự thiêu, cả trại sẽ đeo tang trắng bằng giấy, đòi hỏi Cao Ủy phải xuất hiện, giải quyết vấn đề.
Đêm đó chú Sanh đến nhà bốn đứa con gái chúng tôi, vì tôi làm Bưu Điện nên có nhiều giấy, bút màu bút lông, mấy ngày qua đã giúp viết biểu ngữ, khẩu hiệu cho cuộc biểu tình. Chú nói:
– Cô Loan, cô viết trên chiếc khăn tang của tui hàng chữ: “Thề không về với Cộng Sản!” để ngày mai tui đeo.
Trong khí thế sôi sục của đoàn biểu tình, khuôn mặt chú hừng hực kiên quyết, tôi hiểu nỗi lòng của chú, là một Thiếu Úy VNCH, ở tù cải tạo 3 năm, đã bỏ nước ra đi thì dĩ nhiên, chẳng ai muốn về lại nơi chốn ấy.
Cuộc biểu tình cũng kết thúc khi chưa có người tự thiêu thì đã có máy bay trực thăng của Cao Ủy từ Bangkok bay xuống trại tỵ nạn, khuyến khích người tỵ nạn bình tĩnh, ai về nhà nấy, chấp hành chương trình “thanh lọc” của nước chủ nhà, rồi sau đó hạ hồi phân giải.
Hai năm sau, tôi và chú Sanh trong số ít người may mắn của nhóm tàu được đậu thanh lọc, sau đó chú đi Mỹ, tôi đi Canada.
Ổn định cuộc sống trên quê hương thứ hai một thời gian, nhờ công nghệ Facebook, chúng tôi những người cựu tỵ nạn Thailand tìm được nhau trên Group Facebook, và từ đó có nhiều người, dù không quen hay đã quen lúc ở trại, gửi “friend requests” là tôi chấp nhận liền, khỏi cần rà soát “lý lịch trích ngang”, nên chú Sanh cũng có trong “friend list” của tôi.
Lúc đầu, hỏi thăm qua lại, nhắc nhớ những người chung chuyến tàu, kể nhau nghe cuộc sống hiện tại, chú kể đã bảo lãnh vợ qua, hai vợ chồng đi làm hãng gà, thu nhập ổn định. Vậy thôi, đâu còn chuyện gì để “tâm tình”, vì cách biệt tuổi tác cũng như tính cách nên hầu như không còn liên lạc thường xuyên trên facebook.
Thỉnh thoảng, khi lướt facebook, tôi cũng biết được cuộc sống của gia đình chú. Thằng con trai năm nào đi vượt biên cùng chú, đã vào được Đại Học Nha Khoa, nên hai vợ chồng chú, dù chưa đến tuổi hưu, đã bắt đầu mỗi năm về Việt Nam chơi cả tháng trời.
Quê hương Việt Nam là của chung tất cả những người con Việt, dù tha hương với bất cứ lý do gì, khi có chuyện cần thiết, thăm gia đình họ hàng, trở về xóm xưa bạn cũ… là chuyện bình thường. Tuy nhiên, chú… ca ngợi “đất nước mình giờ đẹp lắm, thay đổi nhiều lắm, đường xá cầu cống biệt thự đẹp khắp nơi…” (Ủa ủa, năm mươi năm kể từ tháng Tư Đen, dù là chính quyền nào, cũng phải tu bổ xây dựng theo sự phát triển chung của thế giới chớ! Còn những vụ rút ruột công trình, tham nhũng đút lót, những con đường xây chưa được ba bảy hai mốt ngày đã hư hỏng, rồi các bệnh viện la liệt bệnh nhân và người nhà ngoài hành lang, mỗi sáng xếp hàng dài chờ cơm từ thiện, sao hổng thấy chú… khen!?). Nếu là một đứa trẻ sinh ra và lớn lên ở hải ngoại, hoặc lớp trẻ rời Việt Nam khi còn nhỏ, thì không nói làm gì, đàng này chú đã sống với chế độ ấy, ở tù khốn khổ, rồi đi vượt biên đầy hiểm nguy… mà lại có những nghĩ suy như thế thì tôi cũng chịu thua.
Chưa hết, vợ chồng chú còn chụp hình cận cảnh dĩa bánh cuốn, dĩa cơm tấm “full topping” ở quán vỉa hè, tấm tắc xuýt xoa giá cả chỉ có 3 đô Mỹ , nếu ở bên Mỹ thì phải tốn ít nhứt 15 đô! (Ủa ủa….! Mà thôi, tôi chẳng thèm nói nữa, mất thời giờ!)
“Dzui” nhứt là hình chú ngồi quán cafe đầu hẻm xóm cũ bên ly cafe, cảm thấy “bình an, hạnh phúc”, được sống chậm, sống nhiều thời gian hơn bên xứ Utah lạnh lẽo mùa đông, mới 4 giờ chiều trời âm u, tối thui. Chú đang cân nhắc, tính toán sẽ về Việt Nam sinh sống khi tới tuổi hưu để… an hưởng tuổi già nơi “chùm khế ngọt”. Tôi thật sự chỉ muốn “unfriend” chú Sanh ngay lập tức, vì đã quá thất vọng chán chường, những người như chú cũng không ít (buồn thay), tóc muối nhiều hơn tiêu, mà còn thế thì trách chi bọn trẻ!?
Nhưng tôi lại nghĩ, cứ để đấy, để chờ ngày vợ chồng chú dọn về Việt Nam sống như “mơ ước” được bao lâu, lúc ấy “unfriend” cũng chưa muộn.
Bẵng đi một thời gian khá lâu, tôi lại thấy chú đăng tấm hình chú ngồi trong phòng bệnh viện ở Utah đang chăm sóc vợ sau ca mổ.
Chú viết: “Hôm nay vào thăm vợ, các bác sĩ chuyên khoa, các y tá, ân cần nhỏ nhẹ ngọt ngào, trả lời mọi thắc mắc của chúng tôi. Phòng bệnh rộng rãi, sáng đẹp, mọi thứ không chê vào đâu được. Tôi đã từng có ý định về hưu sống ở quê hương, nhưng nay thì chắc chắn là không! Mỹ là quê hương thứ hai, và cũng sẽ là nơi chúng tôi ở lại cho đến cuối cùng cuộc đời. Con trai chúng tôi nghe vậy mừng lắm…”
Tôi cũng… mừng nữa nè, chú Sanh ơi! Mừng cho chú, vẫn giữ được lời thề “Never” năm xưa, và không bị lọt vào danh sách đen thui mà tôi đã “khoanh tròn” trong facebook list những kẻ “ăn cây táo rào cây sung”.
KL-Edmonton, Mar. 2026










