“Hãy cho tôi một điểm tựa, tôi sẽ nhấc bổng trái đất lên” là câu nói nổi tiếng của Archimedes (287-212 trước Công Nguyên). Ổng là một nhà toán học, nhà vật lý, nhà phát minh huyền thoại người Hy Lạp. Hình của Archimedes được in ở mặt trước của Huy chương Fields, giải thưởng danh giá được coi là “Nobel Toán học (vì giải Nobel không bao gồm lĩnh vực toán học), được Hiệp hội Toán học quốc tế (IMU: International Mathematical Union) trao 4 năm một lần cho những nhà nghiên cứu nổi bật.

Ơ-rê-ca (Eureka, nghĩa tiếng Việt là “tìm ra rồi”) là một giai thoại nổi tiếng về cách ra đời của “lực đẩy Archimedes” và của mục.. này.

Chiếc gương, vật dụng bình dị trên bàn trang điểm của các quý cô, nhưng cuộc viễn chinh của nó trong dòng chảy khoa học mới là điều đáng kinh ngạc.

Những chiếc gương nhân tạo đầu tiên được tìm thấy tại Anatolia (Thổ Nhĩ Kỳ) vào khoảng năm 6000 TCN, được chế tác từ đá obsidian mài bóng. Đến thời Mesopotamia và Ai Cập (khoảng 3000-4000 TCN), người cổ đại đánh bóng hợp kim đồng thành mặt gương. Trôi tới Trung Hoa cổ khoảng 2000 TCN, đúc gương đồng trở thành môn nghệ thuật bởi những hoa văn duy mỹ ở mặt sau.

Xem thêm:   "Người hùng thầm lặng"

Cuối thời Trung Cổ, Venice đã nổi lên trong nghề làm gương kính. Nhưng bước ngoặt lớn xảy ra tại đảo Murano (Venice) vào thế kỷ 16. Các bậc thầy thủ công đã tạo nên một công thức mới: gương kính phủ hỗn hợp thiếc và thủy ngân, cho hình ảnh trong trẻo hơn hẳn gương đá hay gương đồng. Tuy nhiên, cái giá của sự rực rỡ ấy là hơi thủy ngân cực độc đã rút ngắn tuổi thọ của những người thợ làm gương. Gương Murano thời cực thịnh là mặt hàng xa xỉ bậc nhất châu Âu, chỉ giới quý tộc và cung đình mới dễ chạm tay tới, một chiếc gương lớn có thể đắt ngang một con tàu.

Bởi vậy, Venice giữ bí mật kỹ thuật làm gương như bí mật quốc gia, thợ Murano bị cấm rời đảo; ai tiết lộ bí mật có thể bị ám sát. Tuy nhiên giấy không gói được lửa, các thợ Murano được bí mật dụ sang Pháp, và từ đó kỹ nghệ này cũng lan ra châu Âu. Năm 1688, kỹ sư Pháp Louis Lucas de Nehou hoàn thiện kỹ thuật đúc và mài kính tấm lớn, mở đường cho việc sản xuất gương kích thước lớn ở châu Âu. Chính loại gương lớn này đã được dùng trong Hall of Mirrors của Cung Điện Versailles. Anh em nhà Grimm cho ra mắt truyện Snow White năm 1812, có lẽ bà Hoàng hậu trong truyện sử dụng loại “gương thần” phủ thiếc và thủy ngân?

Xem thêm:   Lá Thư Từ Kinh Xáng 1 (kỳ 32)

Phải đợi đến thế kỷ 19, diện mạo chiếc gương hiện đại mới thực sự hình thành. Năm 1835, nhà hóa học Đức Justus von Liebig tìm ra phương pháp phủ một lớp bạc cực mỏng lên mặt sau tấm kính, giúp hình ảnh phản xạ sáng trưng. Đến năm 1861, ông nhận bằng sáng chế Hoa Kỳ US33721A cho cải tiến mạ thêm đồng để bảo vệ lớp bạc phản xạ. Kỹ thuật này không chỉ giúp gương bền bỉ, giá thành rẻ mà còn mở đường cho việc sản xuất hàng loạt loại gương mới, dần thay thế kỹ nghệ gương thủy ngân độc hại..

Từ đầu thập niên 1930, nhà vật lý Mỹ John Strong đã phát triển kỹ thuật phủ nhôm bằng bay hơi chân không lên bề mặt gương, tạo nên lớp phản xạ bền và hữu hiệu hơn lớp bạc trước đó. Nhờ vậy, gương quang học hiện đại đã trở thành thành phần cốt lõi của những kính thiên văn khổng lồ, đưa ‘đôi mắt’ của con người vươn tới các thiên hà cách Trái Đất hàng tỉ năm ánh sáng.